Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Hấp Hào Hoa
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

DANH NHÂN

 Trả lời bài Trả lời bài
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
Liem Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 23 Oct 2010
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 672
  Trích dẫn Liem Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Chủ đề: DANH NHÂN
    Đã đăng: 01 Jan 2014 lúc 6:51am
ILYA REPIN


 
Ilya Yefimovich Repin ( 5 – 6 - 1844 ; 29 – 9 - 1930) là nhà họa sĩ và điêu khắc người Nga nổi tiếng . Phần lớn các tác phẩm của ông sáng tác về quê hương của mình là Ukraina và Nga . Những tác phẩm hiện thực của ông thường miêu tả sâu tâm lý con người, và phơi bày sự căng thẳng mâu thuẫn trong xã hội đương thời…
 




“Repin tự họa”





 
 
Cuộc đời và sự nghiệp
 
Repin ra đời tại thị trấn Chuguyev gần thành phố Kharkov, thuộc miền trung Ukraina . Cha mẹ ông là những người Nga di cư đến đây .
 




 



 
 
Năm 1866, sau một thời gian học tập với một họa sĩ vẽ tranh Thánh cho các nhà thờ, Repin chuyển đến St. Peterburg học tập tại Học viện Nghệ Thuật Hoàng Gia trong một thời gian ngắn .
 




 



 
 
Repin đã vẽ bức tranh sơn dầu “Những người kéo thuyền trên sông Volga” (Barge Haulers on the Volga)  trong gian đoạn 1870 – 1873, và ông bắt đầu nổi tiếng từ đây !
 



 
“Những người kéo thuyền trên sông Volga”
 




 
 
Từ năm 1873 đến 1876, nhờ học bổng của Học viện Nghệ Thuật Hoàng Gia nên Repin được sang Italy và Pháp để học tập với các vị thầy nổi tiếng như Rembrant…
 



 
“Người bán hàng rong ở Paris”
 



 
 
 
Rất nhanh chóng, tài năng của Repin bộc lộ rõ nét theo trường phái Ấn tượng, và được giới sành nghê thuật châu Âu đánh giá cao .
 




 




 
 
Năm 1878, tại thủ đô London của nước Anh, Repin tham gia vào nhóm “Lang thang” gồm nhiều họa sĩ trẻ lập nên để thể hiện tinh thần tự do phóng khoáng trong các sáng tác của họ… 
 



 





 
Từ năm 1882, Repin sống tại thành phố St. Peterbourg, nhưng ông thường xuyên đi du lịch hoặc về thăm quê nhà Ukraina…
 




 




 
 
Suốt sự nghiệp của mình, Repin đã chú tâm sáng tác về những người thường dân ngèo khổ tại Ukraina và Nga…
 




 




 
 
Về cuối đời ông mới vẽ thêm về tầng lớp thượng lưu Nga, gia đình Nga Hoàng .
 



“Nga Hoàng đến…”
 




 
 
Cuối đời

Repin đã sống ở một ngôi nhà nằm trong lãnh địa của Công tước người Phần Lan, tại phía Bắc thành phố St. Petersburg . Ông đặt tên cho ngôi nhà của mình là “Penaty”, và sắp đặt trang trí ngôi nhà này theo kiểu Italy…





“Penaty”






 
Sau Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập . Chính quyền xô-viết đã mời gọi Repin quay trở về Nga sinh sống, nhưng ông từ chối, viện lý do lớn tuổi rồi nên khó chuyển dời…





“Từ chối xưng tội”





“Mikhail Glinka”
 
Trong giai đoạn này, Repin tập trung sáng tác về đề tài tôn giáo, nhưng cách miêu tả của ông không theo truyền thống cũ mà có nhiều thay đổi mới mẻ… Duy nhất chỉ có một lần Repin vẽ tranh liên quan đến cuộc sống tại nước Nga sau Cách mạng tháng 10, đó là bức chân dung của Alexander Kerensky !











 
Năm 1930, Ilya Repin từ trần tại Kuokkala thuộc Phần Lan .





“Mộ của Repin”






 
Bức trang cuối cùng của Repin tên là “The Hopak”. Đây là một tác phẩm miêu tả về cuộc sống của dân Cossack ở Ukraina…





“The Hopak”








Sau đó xảy ra chiến tranh, kết quả Phần Lan phải nhượng vùng đất Kuokkala cho Nga . Chính quyền xô-viết đã đổi tên vùng đất này thành “Repino”.





 





 
Năm 1940, ngôi nhà “Penaty” của Repin trở thành Nhà bảo tàng Repin .





“Ánh trăng…”





"Phòng làm việc của Leo Tolstoy"
 
Hiện nay, ngôi nhà “Penaty” nằm trong Di sản Văn hóa Thế giới “St. Petersburg và vùng phụ cận” .






Các tác phẩm

Từ năm 1870 đến 1873, Repin đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng kiệt tác bất hủ là bức tranh sơn dầu “Những người kéo thuyền trên sông Volga” (Barge Haulers on the Volga) !










 
Trước và sau cuộc mưu sát Nga Hoàng Alexander II trong năm 1881, Repin đã sáng tác một loạt tranh về đề tài phong trào cách mạng ở nước Nga, đó là các bức tranh “Từ chối xưng tội”, “Bắt kẻ tuyên truyền”, “Cuộc biểu tình”, “Họ không mong anh ấy” (They Did Not Expect Him)





 “Bắt kẻ tuyên truyền”






 
Riêng bức tranh “Họ không mong đợi anh ấy” (They Did Not Expect Him) rất nổi tiếng, nó biểu lộ rõ tài năng của Repin trong việc miêu tả tâm trạng của con người…





“Họ không mong đợi anh ấy”











 
Bức tranh “Đám rước ở tỉnh Kursk” (Procession in the Province of Kursk) với kích thước rất lớn, thường được đánh giá là biểu tượng hội họa của “Đặc tính Nga”, bởi vì nó phản ánh tài tình trạng thái và dáng dấp của nhiều tầng lớp xã hội tuy rất khác nhau, nhưng tinh thần lại được thống nhất trong bối cảnh một đám rước tôn giáo…





 “Đám rước ở tỉnh Kursk”






 
Năm 1885, Repin lại hoàn tất thêm một kiệt tác biểu lộ tâm lý là “Ivan Kinh hãi và con trai” (Ivan the Terrible and his Son) . Bức tranh miêu tả Nga Hoàng Ivan ôm người con trai của mình đang hấp hối, bởi ông đã đánh vào đầu con trai trong một cơn thịnh nộ giận dữ… Bộ mặt kinh hãi của Nga Hoàng Ivan hoàn toàn trái ngược với nét mặt bình tĩnh khoan dung của người con trai…





 “Ivan Kinh hãi và con trai”











 
Từ năm 1870 đến 1891, Repin đã mất khoảng 10 năm để hoàn thành kiệt tác nổi tiếng “Dân Cossack ở Zaporozhian hưởng ứng Vua Mehmed IV của Đế chế Ottoman” (Reply of the Zaporozhian Cossacks to Sultan Mehmed IV of the Ottoman Empire) . Trong bức tranh này, Repin biểu lộ rất tài tình những thái độ tươi cười, hồn nhiên, tự do, bình đẳng, tình huynh đệ… của người dân Cossack ở Ukraina… Ngay sau khi bức tranh này vừa mới hoàn thành, Nga Hoàng lập tức mua nó với giá 35 ngàn đồng rúp, đó là số tiền khổng lồ thời ấy !





“Dân Cossack ở Zaporozhian hưởng ứng Vua Mehmed IV của Đế chế Ottoman”











 
Về cuồi đời, Repin vẽ nhiều bức tranh chân dung những người nổi tiếng của Nga và Ukraina, như văn hào Leo Tolstoy, nhà khoa học Dmitri Mendeleev, nhà từ thiện và sưu tầm đồ cổ Pavel Tretyakov, nhà thơ Taras Shevchenko…





“Leo Tolstoy”





“Pavel Tretyakov”





“Pushkin đọc thơ”


Năm 1903, Chính phủ Nga Hoàng đã đặt hàng Repin vẽ về đề tài miêu tả cuộc họp tại Nhà Hội đồng Chính phủ Nga Hoàng lúc ấy…





“Cuộc họp Hội Đồng chính phủ Nga Hoàng”




 
Ngày 6 – 6 – 2011 tại thủ đô London của nước Anh, Trung tâm đấu giá Christie’s đã bán được bức tranh “A Parisian Café” của Repin với giá 7,2 triệu USD . Đây là giá kỷ lục mới mà một bức tranh của Repin đạt được !





“A Parisian Café”










 
*

Quay về đầu
Kaiser Kim-Thu Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Đã gia nhập: 22 Sep 2011
Địa chỉ: Cologne/Germany
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2244
  Trích dẫn Kaiser Kim-Thu Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 01 Jan 2014 lúc 5:19pm



@ Liêm ơi, lời đầu mình muốn nói: DANH NHÂN là một ý tưởng tuyệt vời. Cảm ơn Liêm. Sau đó mình phải viết đôi điều, mặc dù hoan toàn không có hiểu biết gì về Hội họa.Thế mà những bức tranh để đời của Repin đã khiến mắt mình sáng lên, tài năng thiên phú của họa sỹ như thôi miên khán giả. Những bức tranh có hồn, rất hồn. Hầu như trong tất cả các tác phẩm của ông, những đôi mắt của từng nhân vật đã bộc lộ được sự huyền diệu ấy:Đau khổ, sợ hãi, kinh hoàng, thất vọng, hân hoan, thỏa mãn, buồn , vui, sầu hận...
Bức "Những người kéo thuyền trên sông Volga" thật sự là qủa bom đầu, mở màn cho sự nghiệp của họa sỹ. Ở đây, sự nhẫn nại, chịu đựng đè lên vai, lên cổ những người phu tàu gây một xúc cảm mạnh mẽ cho người xem. Hay trong bức "Họ không mong đợi anh ấy". Cái hồn của bức tranh nằm trên từng gương mặt những người hiện diện. Ai cũng thể hiện được tâm tư, nghĩ suy của mình với "anh ấy". Không ai có cái vẻ giống ai. Thế mới tài, mới thần kỳ. Đến bức "Ivan kinh hãi và con trai", thì mình thật sự SỢ, nó là sợ trước sự-thật, cái sự thật kinh hoàng đang được lột tả ở đây, trên bức tranh này. Không phải vì MÁU, mà vì tâm trạng thật của cha và con trai được bộc lộ trên gương mặt của mỗi người. Sau cùng, mình rất mê bức A PARISIAN CAFÉ. Kiệt tác ! Đẹp hơn không có.
Lần nữa cảm ơn Liêm. Hướng sưu tầm các DANH NHÂN chắc chắn sẽ được bạn đọc ủng hộ. Có điều, ở trang báo này, người đọc không thích thể hiện những lời bình luận của họ, như mình đang viết đây.


Đã được chỉnh sửa bởi Kaiser Kim-Thu - 01 Jan 2014 lúc 5:22pm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 26 Jan 2014 lúc 8:29pm
HOÀNG ĐẾ VÀ NGƯỜI THI SĨ

Cao Huy Thuần

Khi nghe tin người thi sĩ ấy mất, cả thủ đô rúng động. Trong một thoáng, mọi người ai cũng nghĩ như ai : chưa có nhà thơ nào lớn hơn thế. Như một cây đại thụ mênh mông, người ấy tỏa bóng mát trong hơn nửa thế kỷ trên vườn hoa tư tưởng đơm bông mới. Thơ của người ấy vang dội trên mỗi bước dựng xây của nền Cộng Hòa, trên mỗi chiến thắng, mỗi thất bại của dân chủ. Với ông, lịch sử biến thành thơ. Với thơ, ông phất cờ cho tự do, công lý. Bàn tay của ông nóng trong bàn tay của người cùng khổ. Tiếng nói của ông đập trong ngực của bất cứ ai yêu mến tự do. Ngày 22 tháng 5 năm 1885, khi ông ngừng thở, dường như người ấy đang thở trong tim của mọi người. Người ấy là Victor Hugo.






Sáng sớm chủ nhât 31 tháng 5, quan tài của ông được chở đến Khải Hoàn Môn truớc đám đông dân chúng đã đứng chờ suốt đêm tại đó. Như lúc ông còn sống, họ hoan hô : « Victor Hugo muôn năm ! » Một tấm màn đen mênh mông phủ trên Khải Hoàn Môn, nhấp nhánh tên những tác phẩm của người thi sĩ. Trên các nẻo đường đổ vào Khải Hoàn Môn, hàng trăm ngàn người kéo đến diễn hành không ngớt trước quan tài.

Suốt cả ngày hôm đó cho đến nửa khuya, đại lộ Champs-Elysées tràn ngập người, Khải Hoàn Môn được thắp sáng với hai hàng kỵ binh cầm đuốc. Tờ mờ năm giờ sáng hôm sau, mồng một tháng sáu, dân chúng lại nườm nượp kéo đến, kèn lại thổi vang, vòng hoa lại phủ một núi hoa chung quanh quan tài. Đúng 11 giờ, 21 phát súng đại bác nổ vang, báo hiệu lễ chính thức. Quân nhạc trỗi bản tang hành của Chopin. « Đây không phải là đám tang ; đây là lễ đăng quang của vua chúa » : ai đó, từ một bài diễn văn, đã nói lên đúng ý nghĩ của mọi người.

Lễ « đăng quang », người thi sĩ ấy đã nhận từ lúc còn sống. Ngày 25-12-1881, thủ tướng Jules Ferry đích thân đến viếng ông tại nhà riêng, mang quà tặng sinh nhật 80 tuổi của chính phủ. Ngày 27, đúng ngày sinh nhật, dân chúng lũ lượt diễn hành trước gian nhà được trang hoàng đèn hoa, hoan hô vang dậy tên tuổi của ông. Vòng hoa thi nhau móc vào tường : « Tặng người thi sĩ, tặng nhà triết gia, tặng người chiến sĩ tranh đấu cho công lý của các dân tộc ».

Hết đoàn đại biểu này đến đoàn đại biểu khác của các thành phố, của các tỉnh, lần lượt bước vào nhà, giữa tiếng hoan hô vang dậy. Diễn hành, dàn nhạc, dàn ca, và hoa, và hoa, và hoa phủ lên nhau chật nhà, chật ngõ, từ sáng đến đêm, giữa trời tuyết, và người, và người, và người chen nhau, đủ mọi thành phần, mũ dạ của trưởng giả chen với cát-két của thợ thuyền, học sinh chen với binh lính, tay chen tay vẫy lên cửa sổ. Quà tặng, huân chương, sách, báo, chen nhau đưa đến tận tay người nhận. Trên tóc bạc của người thi sĩ ấy, dường như mở ra rạng đông của thời đại mới mà vầng trán kia đã không ngớt mơ tưởng bằng thơ văn, bằng hành động.

Bằng thơ văn và hành động : Victor Hugo ngự trị trên thế kỷ của ông là vì thế. Văn thơ của ông là khí giới sắc bén trong cuộc đấu tranh chính trị sắt máu, triền miên từ cách mạng tư tưởng 1789 đến sau cách mạng xã hội 1848, với quần chúng thấp hèn vươn lên nắm lấy vận mệnh của mình. Đưa thơ vào chính trị, ông thổi khí thế cho quần chúng. Làm chính trị với uy lực của thơ, ông tạo chấn động trong nghị trường. Thơ của ông kích thích như bài hịch. Dấn thân của ông ngay thật, bất khuất. Ông là lương tâm của thế hệ cộng hòa, chiến sĩ của tự do, nhà tiên tri của nhân loại, kẻ tiên phong của Âu châu hợp nhất, người bênh vực giới khốn cùng. Tất nhiên ông có địch thủ. Trong giới nhà thờ. Nơi phe bảo hoàng, quân chủ. Nhưng ông càng cao, địch thủ của ông càng thấp.





“Tang lễ Victor Hugo tại Khải Hoàn Môn Paris”


 
Đâu phải người thi sĩ này sinh ra và lớn lên giữa lòng của khuynh hướng cấp tiến ! Ngược lại, gia đình ông mang truyền thống thiên chúa giáo và bảo hoàng. Ông bắt đầu sự nghiệp văn thơ và chính trị dưới bóng lá cờ trắng của phe quân chủ. Cuộc sống trước mắt và kinh nghiệm chính trị máu xương xoay tầm nhìn của ông về chân trời khác, rất sớm. Vở kịch Cromwell, viết xong năm 25 tuổi, mở đầu cách mạng lãng mạn trong kịch nghệ, cởi trói cho bi kịch thoát khỏi những quy tắc cổ điển. Ông tuyên bố tự do trong nghệ thuật, đưa nhân vật trong kịch trở về với đời sống thực, với con người thực, con người toàn diện, gồm cả cao thượng lẫn thấp hèn.

Cùng với kịch và thơ, ông viết xong một truyện ngắn xứng đáng được xem như phát súng đầu nổ vào thành trì bảo thủ kiên cố nhất, không phải của ngày hôm qua mà cả ngày nay : Ngày cuối cùng của người tử tù. Rất sớm, Victor Hugo đi trước thời đại ; từ đó cho đến cuối đời ông không để lỡ một dịp nào để đòi hỏi chấm dứt tội tử hình. Cái gì đã đưa ông đến thái độ quyết liệt như vậy ? Một kỷ niệm mà ông kể lại 40 năm sau, năm 1862 :

« Tại Paris, năm 1818 hay 19, một ngày hè, vào khoảng trưa, tôi đi ngang qua trước tòa án. Một đám đông vây quanh một cột trụ. Tôi đến gần. Một thân hình người, không biết đàn bà hay con gái, bị trói vào cột trụ, gông quàng trên cổ, bảng đội trên đầu. Dưới chân của thân hình người ấy, một lò lửa cháy rực than hồng, một miếng sắt cán gỗ vùi trong than, đỏ ửng, đám đông có vẻ hài lòng. Người phụ nữ ấy phạm cái tội mà luật lệ gọi là ăn cắp của chủ và ngôn ngữ thông thường gọi là tính thêm tiền chợ. Đồng hồ điểm 12 tiếng. Thoắt nhiên, từ phía sau tội nhân, một người đàn ông vọt ra, leo lên thang chém. Trước đó, tôi để ý thấy chiếc áo ngắn của người phụ nữ bị tách ra hai vạt, buộc lại sau lưng bằng sợi dây. Người đàn ông nhanh nhẹn mở dây, vén áo lên, lột trần lưng của người đàn bà đến eo, vớ lấy miếng sắt trong lò lửa dí sâu vào chiếc vai trần. Một màn khói trắng bốc lên, phủ mờ miếng thép và bàn tay của tên đao phủ. Hơn 40 năm sau, tai tôi vẫn còn nghe và lòng tôi còn chấn động tiếng thét hãi hùng của người bị hình phạt. Từ kẻ ăn cắp, người phụ nữ trong tôi đã trở thành người tử đạo. Tôi ra khỏi đám đông, lòng quyết tâm chống lại đến cùng những hành động tai hại của luật lệ. Lúc đó, tôi 16 tuổi ».





“Tang lễ Victor Hugo”

 
Tháng 6 năm 1848, quần chúng nổi loạn. Cuộc vùng dậy bị dập tắt trong máu. Victor Hugo xông trận trên khắp chiến tuyến : đòi tự do chống lại thiết quân luật ; đòi tương trợ xã hội chống lại nghèo khốn ; đòi chủ quyền cho nước Ý chống lại quyền hành chuyên chế của giáo hoàng ; đòi giáo dục tiểu học trung lập chống lại trường học lệ thuộc giáo quyền ; đòi phổ thông đầu phiếu chống lại đầu phiếu hạn chế. Người thi sĩ trở thành chiến sĩ của phe xã hội. Đảo chánh quân chủ tháng chạp năm 1851 đẩy ông ra khỏi nước Pháp, mở đầu cuộc đời lưu đày kéo dài gần hai chục năm. Đây là giai đoạn phong phú nhất trong sáng tác của ông. Hầu hết các tác phẩm danh tiếng nhất ra đời trong khoảng thời gian này, đáng kể nhất, đối với độc giả Việt Nam, là tập tiểu thuyết Những người cùng khổ. Trong một lời tựa gởi đến nhà xuất bản năm 1862, ông viết :

« Cho đến khi nào, bằng luật lệ và phong tục, xã hội bày đặt ra một cách giả tạo, giữa nền văn minh đang nẩy nở, những địa ngục để đày đọa con người, làm con người lầm tưởng rằng vận mạng của mình, vốn linh thiêng, đã được an bài từ trước ; cho đến khi nào ba vấn đề của thế kỷ - con người bị rơi tụt xuống hàng vô sản, phụ nữ bị mất phẩm cách vì đói, trẻ em teo tóp vì đêm khuya - chưa được giải quyết ; cho đến khi nào, trong nhiều nơi, con người vẫn còn có thể bị bóp ngạt trong xã hội ; nghĩa là, nói rộng hơn, cho đến khi nào trên mặt đất còn ngu dốt và khốn cùng, những quyển sách như quyển truyện này vẫn còn ích lợi ».

Ông viết thêm trong thư gởi Lamartine cùng năm :

« Vâng, thế đấy, tôi muốn hủy diệt số phận an bài ; tôi kết án chế độ nô lệ, tôi xua đuổi nghèo khổ, tôi dạy cho sự dốt nát, tôi chữa cho bệnh tật, tôi thắp đèn cho đêm khuya, tôi căm thù sự căm thù. Tôi là như vậy, và đó là lý do tôi viết Những người cùng khổ. Trong suy nghĩ của tôi, đây là quyển truyện lấy tình huynh đệ làm gốc, lấy tiến bộ làm ngọn ».

Đó chưa phải là xã hội chủ nghĩa. Chỉ xã hội thôi đã quá đủ để phe hữu mạt sát, la ó, tố cáo người thi sĩ ấy phun nọc độc cách mạng. « Đả đảo Jean Valjean ! » « Giết chết Jean Valjean ! » giới bảo thủ ở Bruxelles, nơi ông lưu vong, còn ném hằn học vào cửa sổ nhà ông mười năm sau khi quyển truyện ra đời. Họ đồng hóa ông với Jean Valjean, nhân vật trong truyện, người tù bị đày khỏi xứ. Nhưng Jean Valjean là hiện thân của công lý dưới ngòi bút của Victor Hugo. Vượt ngục, trở về nước, đổi tên, sống cuộc đời thánh thiện, giúp người nghèo, nâng đỡ thợ thuyền, được yêu mến, được kính trọng, bỗng một hôm Jean Valjean nghe tin cảnh sát bắt được một tội nhân vượt ngục tên là ... Jean Valjean. Làm gì bây giờ ? Tiếp tục sống đời thánh thiện, cứu giúp đồng loại, mặc người kia hàm oan, hay nhận lãnh trách nhiệm, tránh bất công ? Jean Valjean lựa chọn công lý. Ông tự nộp mình cho cảnh sát. Nhưng hành động đạo đức cao thượng ấy cũng là hiện thân cao nhất của tự do, bởi vì tự do cụ thể nhất, cơ bản nhất, là tự do lựa chọn. Sống vì tự do, chết vì tự do, con người phải có tự do lựa chọn : đó là thông điệp hùng vĩ nhất của Victor Hugo, trong Những người cùng khổ cũng như trong tất cả tác phẩm và hành động chính trị của ông.





“Tang lễ Victor Hugo”
 
*
*    *
 
Chính tư tưởng đó đã khiến Victor Hugo lựa chọn đời sống lưu vong thay vì chấp nhận ân xá của một chế độ độc tài. Cũng chính tư tưởng đó đã khiến ông thay đổi thái độ đối với Napoléon, thần tượng của ông lúc trẻ. Napoléon ! Có ai lớn hơn vị thần ấy ? Núi, sông, đồng bằng, lâu đài, kinh đô, trận mạc, Đức, Ý, Áo, Phổ, Nga, giáo hoàng, tất cà Âu châu, cho đến tận Ai Cập xa xăm, huyền bí, tất cả đều nằm rạp dưới vó ngựa của hoàng đế. Napoléon ! Như hình vẽ từ ngón tay đứa bé trên cát / Từng đế quốc ngổn ngang xóa sạch dưới chân người. Napoléon ! « Không có môt cái đầu nào, dù cao lớn, ngạo nghễ đến đâu đi nữa, mà không cúi chào vầng trán kia, trên đó rõ ràng bàn tay của Trời đã đặt hai vương miện, một làm bằng vàng mà người ta gọi là vương hiệu, một làm bằng ánh sáng mà người ta gọi là thiên tài ». Napoléon ! Người ngự trị trên thời đại chúng tôi, thiên thần hay quỷ dữ không cần biết / Cánh ó của Người mang chúng tôi phiêu du khắp chốn, ngất ngây.





“Napoleon”


Đó là Napoléon thần thánh của Victor Hugo lúc trẻ, ngôi sao dẫn đường trong đêm tối trước khi trở thành mặt trời chiếu sáng cho thế kỷ mở đầu. Vầng ánh sáng đó rạng rỡ quá, che khuất hẳn mặt tối của ông thần nhưng không xóa được. Mặt tối ấy là tham vọng, độc tài. Tham vọng làm tanh máu trên bàn tay của ông. Máu của hơn 800.000 xác chết vất trên khắp chiến trường. Máu của 3 000 lính Thổ đầu hàng ở Jaffa năm 1799 mà ông hạ lệnh bắn chết sạch. Sạch ! Giữa sa mạc, chỗ đâu mà chứa ? Quang cảnh hàng ngày trước mắt ông là hàng ngàn, hàng chục ngàn thi hài hấp hối, thối rữa.

Bài học vỡ lòng của ông là phải có trái tim sắt, không biết cảm động : bản chất của sự vật, theo ông, là như vậy. Suốt đời, ông đi trên máu và thịt ; ông lấy máu làm mực để viết lịch sử. Lịch sử của tham vọng, của ước mơ trong đầu ông. Ông hô to : « Ta đưa các ngươi đến những cánh đồng phì nhiêu nhất thế giới ». Cánh đồng này rồi cánh đồng khác, lính của ông tha hồ cướp bóc, và giết, và chết.

Ông áp dụng « bản chất của sự vật » đó vào chính trị : sẵn sàng giết không động lòng. « Chính người lính dựng xây Cộng Hòa ; thanh gươm là trục quay của thế giới », ông tuyên bố. Cho nên, tướng biên cương, ông cưỡi gươm về kinh đô đảo chánh ngày 18 Mãn Thu. Ông đoạt quyền. Ông ngồi trên gươm để cai trị. Ông dạy : « chính trị không có tim, chỉ có đầu ». Chống đối, ông dẹp. Hiến pháp, ông sửa. Địch thủ - quận công d’Enghien - ông bắt cóc, ông bắn...

Ông thổ lộ : « Từ toàn thắng đến sụp đổ, chỉ một bước thôi. Bao giờ cũng vậy, một chuyện cỏn con, vô nghĩa lý, chợt đến, quyết định những sự việc trọng đại ». Tay độc tài nào cũng sợ những « chuyện cỏn con » như vậy. Cho nên đã nắm trọn vẫn cứ muốn nắm trọn hơn nữa quyền hành : ông dẹp luôn chế độ cộng hoà. Từ Bonaparte, ông trở thành Napoléon hoàng đế. Ôi, cay đắng cho bao nhiêu hy vọng đặt vào ông để bảo vệ gia tài của cách mạng lúc đầu !

« Bonaparte đập nát tự do bây giờ, nhưng ông sửa soạn tự do cho ngày mai bằng cách kiềm chế cách mạng và tiếp tục tận diệt những gì còn sót lại của nền quân chủ hôm qua. Ông cày bừa cánh đồng ngổn ngang xác chết và phế tích : chiếc cày lực lưỡng của ông được Vinh Quang kéo đi, đào sâu trong đất những luống cày từ đó những hạt giống tự do sẽ mọc ». Ôi, ngây thơ ! Ngây thơ ngủ ngon với nhung y của Bonaparte và thức dậy với cái vương miện trên đầu hoàng đế.

Victor Hugo không chối bỏ hình ảnh vinh quang mà ông đã nhận được từ thần tượng của ông lúc trẻ, nhưng lòng yêu tự do khiến ông biết nhìn cả hai mặt của ông thần và biết mình đứng ở đâu, với ai, trong tư tưởng. Được bầu vào Hàn Lâm Viện năm 1841, lúc ông mới 39 tuổi, diễn văn của ông đối đầu cây bút với lưỡi gươm :

« Tất cả lục địa cúi mình trước Napoléon - tất cả, trừ sáu người thi sĩ, sáu nhà tư tưởng, vẫn đứng thẳng trong một vũ trụ quỳ gối : Ducis, Delille, phu nhân de Staël, Benjamin Constant, Chateaubriand, Lemercier ... Sáu thi sĩ nổi giận đó tượng trưng trong Âu châu điều duy nhất mà Âu châu đang thiếu lúc đó : độc lập ; tượng trưng cho nước Pháp điều duy nhất mà nước Pháp lúc đó đang thiếu : tự do ».




 


Độc tài, nhưng thông minh xuất chúng, Napoléon biết giá trị của người cầm bút. Trong vinh quang của quyền lực, ông biết vinh quang của văn chương. Ông muốn hai vinh quang đó hợp lại sáng rực dưới triều đại của ông, nghĩa là dưới uy quyền của ông. Cho nên, « khoá miệng quần chúng cũng chưa đủ, ông còn muốn Benjamin Constant phải quy phục ; chiến thắng 30 quân đội cũng chưa đủ, ông còn muốn chiến thắng Lemercier ; chinh phục bấy nhiêu vương quốc cũng chưa đủ, ông còn muốn chinh phục Chateaubriand ». Danh vọng, chức tước, địa vị, không thiếu thức gì ông đem ra chiêu dụ họ ; tất cả đều từ chối.

Vuốt ve không được, ông đập. Không người nào nhượng bộ. « Nhờ sáu tài năng đó, nhờ sáu cá tính đó, dưới triều đại của ông, tuy bao nhiêu tự do đã bị dẹp bỏ, tuy bao nhiêu vua chúa đã bị làm nhục, phẩm chất cao quý của tư tưởng tự do vẫn còn được duy trì ».

Các văn hào ấy không phải chống đối cái hào hiệp, cái hiếm có, cái lừng lẫy nơi Napoléon. Nhưng họ thấy « con người chính trị đã làm mờ nhạt con người chiến thắng, bậc anh hùng sóng đôi với tay bạo chúa, một nửa người này đối đáp cay đắng với nửa người kia ». Hơn thế nữa, độc tài và chiến tranh thúc đẩy lẫn nhau ; họ phản đối chiến tranh vì chiến tranh triền miên đến mức ấy đã động đến lương tâm con người.

Tất nhiên, không phải chiến tranh nào cũng xấu, có chiến tranh là cần thiết. Nhưng « lúc chiến tranh vươn đến mục đích thống trị, lúc chiến tranh trở thành tình trạng bình thường của một xứ sở, lúc chiến tranh bước vào giai đoạn kinh niên, lúc 13 chiến tranh diễn ra trong vòng 14 năm, lúc đó, dù cho kết quả về sau là thế nào đi nữa, đến một lúc con người không chịu đựng mãi được.

Lúc đó, phong hóa suy đồi vì bị cọ xát với những tư tưởng bạo tàn, thanh gươm trở thành dụng cụ duy nhất của xã hội, sức mạnh chế tạo ra một thứ luật pháp cho riêng mình, thương mại, kỹ nghệ, sự phát triển rạng rỡ của trí óc, tất cả những hành động của hòa bình đều biến mất. Chính lúc đó, dù đang giữa mùa chiến thắng rầm rộ của gươm giáo, xã hội cần có những nhà tư tưởng để khuyến cáo người anh hùng ; lúc đó, các nhà thi sĩ - nghĩa là các người làm nên văn minh một cách nhẫn nại, thanh bình, an nhiên - cần đứng lên phản đối những người chinh phục - nghĩa là những người làm nên văn minh bằng bạo lực ».





 
Vinh quang của người này phải tôn trọng vinh quang của người kia. Vinh quang của người này cần có vinh quang của người kia. Đó là động cơ của tiến bộ. Ở tột đỉnh của quyền lực, ở tột đỉnh của vinh quang, Napoléon không còn biết đến ai nữa. Ông chỉ còn nghĩ đến ông và một đứa con trai phải đẻ ra để bế lên ngai vàng của ông, đánh bạt những dòng máu chính thống khác.

Ông trèo quá cao nên ngã quá đau. Giá như ông chịu khó hỏi ý kiến của một người dân quê nào đó ở phương trời Á châu xa xăm, chắc ông đã được nghe nói :”mãnh hổ nan địch quần hồ “. Tham vọng của ông đưa ông vào tử lộ. Và đây là tử lộ trong thơ của Victor Hugo, người đã xem ông là thần tượng trước khi biết trách ông quên mất vinh quang của tự do :

Tuyết rơi. Rơi trên hùng binh gục ngã
Lần đầu tiên con ó cúi đầu
Lệnh hoàng đế rút lui nhục nhã
Bỏ đàng sau bốc khói Mát-Scơ-Va.
Tuyết rơi. Mùa đông vỡ tan theo tuyết
Mênh mông đồng tuyết, đồng tuyết mênh mông
Tướng ở đâu, cờ ở đâu, không biết
Đại binh hôm qua, nay đàn súc khốn cùng.
Mơ ước lạc loài tan theo sương khói
Dưới trời đen hình bóng mông lung
Cùng với tuyết trời kia yên tĩnh
Dệt khăn tang trùm hàng vạn tàn binh.
Trước tàn quân lưa thưa trên tuyết
Người vinh quang run rẩy nhìn trời
Nói gì đây một câu sám hối
“Phải chăng đây trừng phạt hỡi Trời ?”
Napoléon ! tên ông ai gọi
Nghe mơ hồ ai nói với ông :
Không.
 





 
Ba năm sau, Waterloo khép lại bước đường cùng. Khi lớp tinh binh cuối cùng của Napoléon bị tiêu diệt sạch, khi tàn binh bỏ chạy như sóng lũ, người, ngựa, cờ, trống rơi quỵ ngổn ngang trên trận địa,

Napoléon hốt nhiên hối hận
Lính chết. Ta thua. Trời hỡi ! Ông than
Đế quốc ta tan tành như gương vỡ
“Phải chăng đây trừng phạt hỡi Trời ?”
Napoléon ! tên ông ai gọi
Nghe mơ hồ ai nói với ông :
Không.

Trời không dung. Bởi vì thanh gươm của ông đâm vào tự do của các dân tộc. Bởi vì thanh gươm của ông đâm vào tự do.




“Napoleon bị bắt và đi đày ra đảo”




*
*    *

Giống như bất cứ ai, tôi cũng đã từng choáng ngợp trước hào quang của Napoléon. Người Việt lại dễ choáng ngợp hơn ai hết, vì lịch sử mà chúng ta học từ bé là lịch sử của võ công, của trận mạc, của danh tướng. Huống hồ, trong huyền sử chung quanh Napoléon, còn phảng phất thêm phấn hương hồng lâu mộng Joséphine ! Trai mới lớn chúng tôi ngày trước có đứa thuộc lòng từng đoạn trong thư tình ông gởi cho hoàng hậu. « Ta đang trên đường từ chiến trận về thăm nàng đây. Đừng tắm nhé ! » Khói bốc ra từ hàm ngựa và mùi mồ hôi dâng lên từ phía dưới cổ quý phi, trai nào mà không rạo rực ? Lớn lên chút nữa mới hiểu rằng đâu phải chỉ ngồi trên mình ngựa mới làm nên lịch sử !

Nhưng có lẽ chưa già thì chắc cũng chưa dám nghĩ đến việc so sánh sức mạnh giữa cây bút với lưỡi gươm. Chưa già thì chưa nhận ra rằng hóa ra lưỡi gươm chẳng thấm vào đâu so với lời nói và chữ viết. Riêng về chuyện Napoléon, dù ông là thần thánh, ông đã chết. Yên lặng trong nấm mồ / Ông nằm nghe lòng đất nói về ông. Victor Hugo vẫn còn sống. Bằng chứng là ông đang tiếp tục viết lịch sử của ngày mai. Ông viết lịch sử của tự do thì bao giờ ông cũng vẫn còn đấy. Đây, tôi xin tóm tắt một đoạn mà nét mực vẫn còn tươi.






« Hồi thế kỷ này mới bắt đầu, có một đứa bé sống trong một ngôi nhà lớn, kín đáo ẩn khuất giữa một khu vườn lớn, trong một vùng thanh vắng nhất Paris. Trước cách mạng, nhà đó là một tu viện mang tên là Feuillantines. Đứa bé sống một mình, với mẹ, hai anh và một ông linh mục dạy trong nhà. Ông linh mục là người đáng kính, nhưng lối giáo dục của ông tiêm vào đầu óc non trẻ của chúng tôi sự già nua của thành kiến, hút bình minh ra để đưa đêm tối vào, đổ đầy quá khứ vào tâm hồn đến nỗi không còn chỗ nào để chứa tương lai. Đứa bé đó là tôi, cách đây sáu mươi năm.

Đó là giai đoạn huy hoàng của Napoléon, chiến thắng tiếp theo chiến thắng. Tôi còn nhỏ, không biết gì, chỉ sống giữa hoa bướm với ong, không thấy ai ngoài mẹ, hai anh và quyển sách dưới nách ông linh mục.

Bỗng một buổi chiều, vài người khách ở đâu đến viếng mẹ tôi, chuyện lạ chưa từng thấy trong ngôi nhà Feuillantines này. Khách ba người, bạn của cha tôi đang công tác xa. Khách và mẹ tôi đi dạo trong vườn ; mẹ tôi nghe khách nói chuyện, tôi bước theo sau mẹ tôi. Hôm đó là một ngày lễ lớn, đèn, pháo bông, đại bác nổ vang, cả kinh đô tung hô hoàng đế và quân đội của ông, đêm hồng lên ánh lửa, khu vườn sáng tỏ như ban ngày. Ba người khách nói chuyện ; cây cối lặng yên ; đàng xa đại bác trang nghiêm nổ, mười lăm phút một phát. Điều mà tôi sắp kể sau đây, không bao giờ tôi quên được.

Khi ba người khách bắt đầu bước vào dưới lùm cây lớn, một trong ba người dừng lại, nhìn lên trời đêm rực ánh sáng, bật tiếng lớn :

– Dù sao đi nữa, người ấy thật vĩ đại.

Bỗng một tiếng cất lên từ trong bóng tối :

– Chào Lucotte, chào Drouet, chào Tilly.
 





 
Rồi một người cao lớn hiện ra trong ánh sáng mờ ảo của lùm cây. Ba người khách ngẩng đầu. Một người kêu lên : “Ồ !" Ông chưa kịp gọi tên người ấy thì mẹ tôi, tái mặt, ra dấu bảo im. Họ im. Còn tôi, ngạc nhiên, đứng trố mắt. Chưa bao giờ tôi biết trong góc vườn sau, chỗ có một căn nhà nhỏ bỏ hoang, có người trú ẩn từ lâu nay. Người ấy lớn tiếng :

– Lucotte, anh vừa nói người ấy vĩ đại.

– Đúng.

– Có người vĩ đại hơn Napoléon.

– Ai ?

– Bonaparte.

– Lúc nào ?

– Trước ngày 18 Mãn Thu.

Rồi tiếp luôn :

– 18 Mãn Thu là sụp đổ.

– Đúng rồi, của Cộng Hòa.

– Không, của Bonaparte.

Cái tên Bonaparte làm tai tôi bỡ ngỡ vô cùng. Tôi vẫn thường nghe nói : "hoàng đế". Từ lúc đó tôi mới chợt hiểu cách nói tự nhiên, pha chút khinh bạc, về sự thật. Ngày hôm đó, tôi mới biết tiếp cận cách xưng hô hùng vĩ mày tao thân mật với lịch sử.





 
Ba người khách là ba ông tướng ; họ nghe với dáng mặt vừa ngạc nhiên vừa nghiêm trọng. Ông Lucotte nói :

– Anh có lý. Để xóa bỏ 18 Mãn Thu, tôi sẽ hy sinh tất cả. Nước Pháp lớn, tốt. Nước Pháp tự do, tốt hơn.

– Nước Pháp không thể lớn nếu không tự do.

– Đúng. Để lập lại nước Pháp tự do, tôi cho hết gia sản. Còn anh ?

– Tính mạng.

Lại im lặng một lúc. Đàng xa vẳng đến tiếng huyên náo của Paris vui nhộn, cây cối hồng lên, ánh sáng của lễ hội chiếu trên khuôn mặt của ba người. Sao đêm trên đầu mờ nhạt giữa rực rỡ của Paris thắp sáng, vầng sáng của Napoléon làm ngập bầu trời.

Thốt nhiên, người trú ẩn khi nãy xoay mặt về phía tôi khiến tôi sợ và lén trốn ; ông nhìn tôi đăm đăm, rồi nói :

– Này cháu, hãy nhớ câu này nhé : trước hết là tự do.

Rồi ông đặt tay lên vai tôi ; cho đến bây giờ vai tôi vẫn giữ nguyên cái rùng mình khi ấy. Và ông lặp lại :

– Trước hết là tự do.

Rồi ông đi vào dưới lùm cây, chỗ mà khi nãy ông bước ra.

Người ấy là ai ? Một tội nhân bị truy nã. Tướng Lahorie, bạn của cha tôi, tuy lớn hơn cha tôi 25 tuổi. Năm 1801, ông chống lại Bonaparte, bị truy lùng, đầu ông bị treo giá, cha tôi cho ông ẩn nấp trong nhà hoang. Nhà phế nát chứa chấp một phế nát khác - một kẻ bại trận. Chim chóc tự do bay vào chỗ ông trốn, sợ gì một chiếc giường con, một khẩu súng lục, và một cuốn sách lịch sử Cộng Hòa Roma thời cổ.
Tôi còn nhớ như in một hôm ông bế tôi trên đùi, mở cuốn sách ra và đọc hàng chữ la tinh : Urbem Romam a principio reges habuere. Ông dừng lại, thầm thì :

– Nếu Roma hãy còn vua chúa, Roma đã không phải là Roma.

Rồi, nhìn tôi âu yếm, ông lặp lại câu nói ấy :

– Này cháu, trên tất cả là tự do.
 




“Victor Hugo thời trai trẻ”


Một ngày kia, ông biến mất khỏi nhà. Tôi không hiểu tại sao. Nhiều biến cố xảy ra quá.

Một buổi chiều tháng 10-1812, tôi nắm tay mẹ tôi đi trước nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas. Một áp phích lớn, màu trắng, niêm trước cột cổng, cột bên phải, sau này thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn cột đó. Người qua đường liếc nhìn tấm áp phích, dáng sợ hãi, lướt mắt đọc qua, rồi bỏ đi thật nhanh. Mẹ tôi dừng lại bảo tôi : con đọc đi. Tôi đọc. Tôi đọc thế này :"Đế chế Pháp quốc. Chiếu bản án của phiên tòa án binh đầu tiên, đã bắn trên phố Grenelle, vì âm mưu chống lại đế chế và hoàng đế, ba cựu tướng Malet, Guidal và Lahorie".

Mẹ tôi nói : "Lahorie, con nhớ tên của bác ấy". Và tiếp theo :

– Bác ấy là cha đỡ đầu khi con mới sinh ».

Cũng giống như “những chuyện cỏn con“ ám ảnh hoài các nhà độc tài, câu nói cỏn con của người trú ẩn, thốt ra giữa một đêm tưng bừng ánh sáng vinh quang của quyền lực tối cao, vang dội mãi trong đầu của người thi sĩ ấy : “trước hết là tự do".





“Victor Hugo thời niên thiếu”


Nếu có ai khác nói về tự do, tôi sẽ còn xét lại. Nhưng khi đứa bé trong chuyện là tác giả “Những người cùng khổ”, khi người bênh vực cho những người cùng khổ nói lên tự do, thì tôi lắng tai nghe định nghĩa của người ấy. Người ấy định nghĩa tự do như thế này :”Tự do là Lý Trí trong triết lý, Hứng Khởi trong nghệ thuật, Công Lý trong chính trị”. Một tự do với định nghĩa rõ ràng như vậy, có gì trái với hướng đi của ngày nay ?

 Cao Huy Thuần
 

*


Điện Panthéon
(tiếng Pháp: Le Panthéon hay đơn giản là Panthéon) là một công trình lịch sử nằm trên đồi Sainte-Geneviève, thuộc Quận 5 thành phố Paris. Công trình nằm ở trung tâm khu phố La Tinh, được bao quanh bởi nhà thờ Saint-Étienne-du-Mont, thư viện Sainte-Geneviève, Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, Đại học Paris II Panthéon-Assas, tòa thị chính Quận 5 và trung học Henri-IV.
 




 
Ban đầu, Panthéon là một nhà thờ được xây dựng vào thế kỉ 18 để bảo quản thánh tích của thánh Geneviève. Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Pháp. Hiện nay điện Panthéon là nơi chôn cất và tôn vinh những nhân vật lịch sử và những người đã làm rạng danh cho nước Pháp.





“Mộ của Victor Hugo dưới tầng hầm Điện Patheon Paris”
 




Đã được chỉnh sửa bởi Liêm - 26 Jan 2014 lúc 8:34pm
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 26 Feb 2014 lúc 6:38am




JOHN D. ROCKEFELLER

John D. Rockefeller đã làm được ba việc hơi khác thường trong đời ông.
 
Việc thứ nhất là  đã gây được một gia tài có lẽ lớn nhất trong lịch sử.
 
Khi ông bước vào đời, ông phải đi đào khoai tây dưới ánh nắng gay gắt để kiếm được mỗi giờ bố xu. Hồi mà khắp Hoa Kỳ không có tới sáu nhà triệu phú thì John Rokefeller đã gây nổi một gia tài khoảng một hai tỷ Mỹ kim.

Việc thứ nhì là John D. Rockefeller giúp cho mọi cơ quan một số tiền lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Ông đã giúp sáu triệu Mỹ kim, tính ra từ khi đức Chúa Ki Tô ra đời đến nay, cứ mỗi phút ông phân phát sáu cắc rưỡi, hoặc từ khi Moise dắt dân Israel qua Hồng Hải đến nay luôn ba ngàn năm, cứ mỗi ngày ông phân phát sáu trăm Mỹ kim.

Vậy mà thiếu nữ ông mê lần đầu tiên lại chê ông. Tại sao ? Tại bà mẹ cô ta bảo không khi nào chịu gả con cho một anh chàng không có tương lai.

Việc thứ ba cũng hơi đặc biệt nữa là ông sống chín mươi bảy tuổi. Ông là một trong những người bị tất cả Châu Mỹ ghét nhất. Ông nhận được hàng ngàn bức thư đe dọa ông. Suốt ngày đêm phải có lính hộ vệ ông, khí giới đầy đủ. Công việc chỉnh lý và điều khiển vô số xí nghiệp của ông làm thần kinh và cơ thể ông căng thẳng ghê gớm mà ông chịu nổi.

Harriman, nhà chuyên môn xây đường xe lửa, làm việc mệt quá, chết hồi sáu mươi mốt tuổi.

Woolworth, người sáng lập những tiệm bán hàng giá độc nhất ở khắp nước, chết hồi sáu mươi tám tuổi.

John D. Rockefeller gây được một gia tài gấp mấy lần gia tài của Harriman, Woolworth, Duke hợp lại. Mà xin bạn nhớ rằng một triệu người chỉ có ba người thọ được chín mươi bảy tuổi. Và trăm triệu người không chắc có được một người sống tới tuổi đó mà không phải dùng răng giả: John Rockefeller tới chín mươi bảy tuổi vẫn còn đủ răng!

Bí quyết sống lâu của ông ở đâu? Chắc chắn là do di truyền, nhưng cũng nhờ bản tính ông điềm tỉnh nữa. Không bao giờ người ta thấy ông nóng nảy, cũng không bao giờ ông vội vàng.

Khi ông làm Giám Đốc công ty Standard Oil, ông kê một chiếc đi-văng trong phòng giấy ở Broadway, và muốn gì thì gì, mỗi bữa trưa ông cũng đánh một giấc nửa giờ. Ông giữ thói quen mỗi ngày ngủ năm giấc ngắn cho tới khi mất.

Hồi năm hai mươi lăm tuổi ông mới đau lần đầu. Thật là một tin mừng và rất quan trọng đối với y học vì khi khỏi bệnh, ông tặng cả triệu Mỹ kim vào công việc nghiên cứu y học. Nhờ vậy mà ngày nay Viện Rockefeller mỗi tháng tiêu được khoảng một triệu Mỹ kim vào chiến dịch diệt bệnh ở khắp thế giới.

Năm 1923 tôi đương ở Trung Hoa thì bệnh thời khí hoành hành ghê gớm ở đó, và ở giữa cảnh nghèo nàn và ngu dốt của người Trung Hoa, tôi có thể lại Bắc Binh tiêm thuốc ngừa bệnh ở Viện Rockefeller.
 
Trước ngày đó tôi không thấy được công ông giúp hạng người đau khổ ở châu Á và những nơi hẻo lánh nhất thế giới. Viện Rockefeller đã rán diệt loài sán. Hiện nay Viện đương tấn công bệnh rét rừng và các y sĩ của viện đã tìm thấy thuốc trừ một bệnh sốt rét ghê gớm, bệnh hoàng ngược.

Nhưng con người giàu nhất thế giới đó xây dựng sự nghiệp khổng lồ cách nào?

Ngay từ hồi nhỏ ông đã có tư cách tỏ rằng sau này sẽ thành công. Ông là con một y sĩ lang thang, thường đi nơi này nơi khác, để mẹ con ông ở nhà, trong một trại ruộng tại Moravia, gần hồ Owasco, giữa một xứ của dân da đỏ.
 
Một hôm John thấy một con gà mái rừng đi tìm chỗ yên tĩnh để làm ổ. Mẹ ông bảo ông đi kiếm ổ gà  đó rồi bắt con gà  đem về trại nuôi. Ông mất hai ngày mà không có kết quả. Nhưng, đúng như lời một người viết tiểu sử ông chép lại chuyện đó, ông có cái "Thiên tài kiên tâm","Một sức kiên tâm tàn nhẫn, không gì lay chuyển được".
 
Ông không chịu thua, tiếp tục rình con gà, theo dõi nó hoài và hai ngày sau, ông bắt được cả mẹ lẫn con về trại. Lần nuôi gà  đó là công việc làm ăn đầu tiên của ông. Ông bán được tiền, bỏ vào một chiếc chén rạn. Để kỷ niệm bước đầu đó, sau này, trong cái trại nổi tiếng rộng bốn ngàn mẫu của ông ở Pocantico Hills, luôn luôn ông nuôi một bầy gà mái tây cho tới khi ông chết.

Đi học ông cũng siêng năng nhưng không có nhiều kết quả. Ông chỉ thích môn toán. Sau này ông bảo:

-Tôi chỉ là một người thích những con số. Ông tập tìm hiểu nghĩa của các số đi. Nó sẽ cho ông biết nhiều sự thực cay đắng mà thấy rõ được tương lai.

Ông được mười một tuổi khi thân mẫu ông ở nhà một mình, phải chống cự với cảnh cơ hàn để nuôi năm người con. Ông phải làm mướn cho một chủ trại láng giềng và ki cóp tiền công cho tới khi trong cái chén rạn của ông có được năm mươi lăm Mỹ kim. Lúc đó ông đem trọn số tiền cho chủ vay, lời bảy phân, và ông thấy rằng số vốn đó mỗi năm đem lại cho ông một số tiền bằng tiền công mười ngày làm việc mệt đừ.

Ông nói:

-Thế là tôi giải quyết được vấn đề. Tôi quyết định ngay là sẽ bắt tiền bạc làm nô lệ cho tôi, chứ không chịu làm nô lệ cho tiền bạc nữa.
 
Vài năm sau, John D. Rockefeller vào làm thư ký trong một tiệm bán buôn đồ tạp hoá ở Cleveland. Ông làm phụ về kế toán rồi lên làm sếp kế toán. Chủ không chịu tăng lương, ông xin thôi, cùng với hai bạn thân, ra mở tiệm. Trong công việc làm ăn này, ông chỉ trông nom sổ sách.
 
Công việc phát triển, nhưng chàng thanh niên Rockefelle tiếp tục sống quá giản dị: Chàng để dành vốn. Kế đó, ở Clevelanl người ta ùa nhau đi kiếm dầu lửa ông cũng theo gót người ta đi kiếm dầu. Trái hẳn với điều nhiều người tưởng, không phải dầu lửa làm cho Rockefeller giàu có: Rockefeller là cái máy làm ra tiền, bất kỳ ở đâu cũng làm giàu được, dù là bán tạp hoá hay bán dầu lửa.
 
Nhưng dầu lửa mở cho ông những thị trường rộng hơn. Chỉ trong vài năm, anh chàng bán tạp hóa tư bản đó (lúc ấy vốn của ông đã quan trọng), bỏ việc kế toán của tiệm để đảm nhiệm công việc kế toán trong nhà máy lọc dầu. Xí nghiệp phát triển, số lời tăng lên, nhưng luôn luôn ông đập lời vào vốn.
 
Ký hiệu của Rockefeller là cục tuyết, càng lăn trên tuyết thì càng lớn lên. Lần đầu ông nuốt hết những hãng lọc dầu cạnh tranh với ông. Khi ông về Nữu Ước, ông đã tỷ phú mà ráng làm không cho ai biết mình. Những tỷ phú khác thì yến tiệc lưu liên, sắm du thuyền, lập chuồng nuôi ngựa đua, cất lâu đài ở Ecosse, còn ông thì sống như một tiểu tư sản lương thiện trong một gia đình nhũn nhặn, kiểu mẫu…
 
Thói quen của ông sau này có thay đổi, mức sống của ông có tăng lên, như số chi tiêu bao giờ cũng ở dưới số tăng của tiền lời. Về già ông dựng một trại quá sức tưởng tượng, tức trại Pocantico Hills: mấy ngàn mẫu rừng, bãi cỏ, vườn tược, trong đó có đường cái, dòng nước và bảy mươi lăm biệt thự cho con cháu ! Nhưng nếu John D. Rockefeller lập trại đó hai chục năm trước, thì ông đã không còn là John D.
 
Rockefeller, nhà giữ kỷ lục khắp thế giới về việc gây vốn . Và khi ông lập trại thì phí tổn không thấm vào đâu với số lời của ông: hiện nay mỗi tháng ông lời trên sáu triệu Mỹ kim, không có cách tiêu pha điên cuồng nào mà hết được số tiền ấy.
 
Bây giờ thì cái xa xỉ lớn nhất của ông là không thuộc về đời tư của ông nữa, mà thuộc về những công việc từ thiện, việc xây dựng những viện khảo cứu khoa học, việc trợ cấp để bảo tồn điện Versailles, nhà thờ Reims và biết bao bảo vật khác của văn minh…
 
Và mặc dầu tiêu pha nhiều như vậy, gia tài của John D. Rockefeller cũng vẫn tiếp tục tăng theo cái mức trên dưới một trăm Mỹ kim mỗi phút !
 
Dale Carnegie
Nguyễn Hiến Lê dịch
 
*
 
JOHN DAVISON ROCKEFELLER
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

John Davison Rockefeller, cha
. (18391937) là một nhà công nghiệp người Mỹ, người đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dầu mỏ thời sơ khai, người sáng lập công ty Standard Oil và đồng thời cũng là một nhân vật gây tranh cãi trong lịch sử nước Mỹ. Ông được xem là một trong những người giàu nhất lịch sử với tài sản tương đương khoảng hơn 663 tỷ USD so với USD năm 2007 (theo cách tính của Forbes).

Trong suốt thời gian 40 năm, Rockefeller đã xây dựng Standard Oil thành công ty lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất trên thế giới.việc buôn bán dầu mỏ của Rocherfeller bắt đầu từ thời kì nội chiến Mỹ (1861-1865), trong một vài năm sau đó công ty của ông chỉ thuộc hạng trung bình. Một sự thay đổi lớn đã diễn ra khi ông nhận được một khoản cho vay lớn đến từ ngân hàng đô thị quốc gia Cleveand, chỉ trong một thời gian ngắn Rockerfeller đã cho tất cả thấy tài năng trong lĩnh vực kinh doanh của mình.

Tuy nhiên tham vọng của Rockerfeller đã vượt xa những gì người ta có thể tưởng tượng. Tất cả những người tham gia vào ngành công nghiệp luyện dầu đều nhìn thấy cơ hội và triển vọng tốt với mức lợi nhuận ngắn hạn cao, nhưng không có mấy người như Rockerfeller nhìn thấy một sự thật hiển nhiên: đó là cạnh tranh trong lĩnh vực này diễn ra kịch liệt mà không thể kiểm soát được, vì thế sớm hay muộn, các doanh nghiệp tham gia vào cuộc chiến này sẽ rơi vào cảnh cạnh tranh quyết liệt, để tồn tại và phát triển, chỉ có duy nhất một cách: tiêu diệt đối thủ cạnh tranh bằng mọi giá, không từ bất cứ thủ đoạn nào.

Sự nghiệp kinh doanh của ông đã gây nhiều tranh cãi. Ông bị các nhà báo chuyên chống tham nhũng tấn công; công ty của ông bị tòa án liên bang Mỹ buộc tội độc quyền và bị chia nhỏ vào năm 1911.

Ông dành 40 năm cuối đời tập trung vào các hoạt động từ thiện, liên quan chủ yếu đến giáo dục và sức khỏe cộng đồng. Ông đã dùng gần hết tài sản của mình cho các hoạt động này.

Lịch sử nước Mỹ từng có một nhà công nghiệp vừa được kính nể và khâm phục bởi tài làm giàu nhanh chóng, nhưng cũng vừa bị khiếp sợ bởi những tham vọng khôn cùng. Đó chính là John Davidson Rockefeller, được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất.

Từ một người làm thuê đào khoai tây dưới ánh nắng chói chang, mỗi giờ 04 xu về sau Rockerfeller trở thành người có tài sản lên tới 1-3 tỷ USD (tương đương hơn 663 tỷ USD năm 2007). Ông đã từng có thời là người giàu nhất thế giới. Nước Mỹ lúc bấy giờ, người có gia sản vài triệu USD mới chỉ có 4 đến 5 người .

*



 
 
Lời Phật dạy :”Muốn giàu có hãy bố thí tiền bạc . Muốn mạnh khỏe hãy bố thí vô úy (những điều không gây sợ hãi) . Muốn thông minh hãy bố thí chánh pháp”.



Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Apr 2014 lúc 8:11pm




Trịnh Công Sơn


Trịnh Công Sơn
ra đời tại Đắc Lắc (28 tháng 2 năm 19391 tháng 4 năm 2001). Ông quê tại làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca. Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và do đó đã chịu sự cấm đoán, hạn chế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và ngay cả của chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này. Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ dù không chuyên.



Tiểu sử

Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao-hiện nay là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế [1]. Ông lớn lên tại Huế.

Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòi theo học triết học trường Tây Lyceé J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tại tại đây[1].

Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi[1].. Nhưng tác phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi, được xuất bản An Phú in năm 1959[2]. Từ đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông[3]. Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi Chiến tranh Việt Nam là "nội chiến" trong bài Gia tài của mẹ[4], vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay.

Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại 1 trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng[5]

Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhậttiếng Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con.

Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968[6].





Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cải tạo[7]. Nhưng cũng có những nguồn tin theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo[8] hay ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên[6]. . Một thời gian dài sau 1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm ngầm tẩy chay ở hải ngoại.

Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, và có viết một số bài có nội dung ca ngợi chế độ mới như Thành phố Mùa Xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.

Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ [9] [10]. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến” [11] [12]. Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam[13]. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân[14]. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.

Ông bị bệnh gan, thậntiểu đường. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minhbệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ)[15]. Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm

Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận con.




Sự nghiệp sáng tác

Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc[16], những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý. Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."[17].




Nhạc tình

 
Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của họ Trịnh tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...

Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ... Ngoài ra còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...

Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.

Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ".




Nhạc phản chiến

Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, sau này tài tử hơn và để tránh nhầm lẫn với những ca khúc phản chiến của tác giả khác, người ta gọi là Ca khúc da vàng.

Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trờiPhụ khúc da vàng[18].

Nhạc phản chiến của họ Trịnh phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, bỉ mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp[cần dẫn nguồn].

Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát của ông vẫn còn bị cấm trình diễn tại Việt Nam, dù rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Chính chúng ta phải nói hòa bình, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta quyết phải sống)




"Trịnh và Khánh Ly"

[sửa] Nhạc khác

Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi, viết cho trẻ em: Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, và cả những bài nhạc đỏ: Huyền thoại mẹ, Em ở nông trường - em ra biên giới, Nối vòng tay lớn, Ánh sáng Mạc Tư Khoa, Chưa mất niềm tin, Huế - Sài Gòn - Hà Nội... Trong đó nổi tiếng hơn cả là các bài "Em là hoa hồng nhỏ" và "Nối vòng tay lớn" - có thể nói rằng không một thanh thiếu niên Việt Nam nào lại không biết đến hai bài hát này.




"Trịnh và Hồng Nhung"

[sửa] Thơ

Có khá nhiều bài thơ (văn vần không được phổ nhạc) của ông hoặc được cho là của ông hiện đang được truyền tụng trên các diễn đàn.

Hội họa

Cũng giống như đàn anh Văn Cao, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích.
Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán.




Vinh dự

  • Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con"[19] (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ nhì các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản[20].
  • Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng"
  • Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới"
  • Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ"
  • Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường", "Ta đã thấy gì hôm nay"
  • Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde (Coll. Les Millions)




Ca sĩ thể hiện

Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn là Khánh Ly, Khánh Ly đã thể hiện hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn và được cho là thành công nhất. Nhưng Khánh Ly không phải người đầu tiên hát nhạc này, trước đó đã có Thanh Thúy, Hà Thanh giới thiệu những sáng tác đầu tay của Trịnh Công Sơn ra công chúng.

Ngoài ra, nhiều ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn, tuy ít, cũng rất thành công như Thái Thanh, Lệ Thu, Lê Uyên[cần dẫn nguồn], Lan Ngọc. Giọng nam thì có Tuấn Ngọc, Quang Dũng. Tuấn Ngọc được Trịnh Công Sơn đánh giá rất cao khi hát nhạc của ông.

Việt Nam sau 1975 cũng có những người hát nhạc Trịnh Công Sơn như Hồng Nhung, Trịnh Vĩnh Trinh theo phong cách mới và được khá nhiều khán giả đón nhận.[21][22]

Cũng nên kể đến những ca sĩ trẻ muốn dấn thân vào hát nhạc Trịnh Công Sơn bằng phong cách "mới" và "lạ", để rồi gặt hái sự không thành công, tiêu biểu là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng sau khi trình bày các ca khúc đã gặp phải sự phản đối của dư luận.[23], [24]

Bản thân nhạc sỹ Trịnh Công Sơn cũng đã tự mình thể hiện một số ca khúc của mình và được đánh giá là rất thành công.




Đời sống tình cảm

Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp và lãng mạn với những phụ nữ nổi tiếng không những ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc. Mối tình đầu, thực chất chỉ là 1 tình bạn cao đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly [25], rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn[cần dẫn nguồn], mối tình thứ ba của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ tư của ông là với VA..., khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông [26].

Sau 1975, đã có hai lần ông định lập gia đình. Lần đầu vào năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ quận 18, Paris, bà C.N.N [27]

Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, TCS gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là "Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!"... Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.[28]

Ca sĩ Hồng Nhung kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá... già!"[28]

Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh nói về tình yêu đối với ông: "Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh Công Sơn trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn trọng thế giới riêng của tôi"'. [29].

Tình yêu của Trịnh dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia đình cho được để tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một phụ nữ nào [30]. Tài năng của ông luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông còn đóng phim, hội họa [31]…. Nhưng ông nhìn nhận cuộc đời và giành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn với không hề tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về cuộc đời: Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống.[32]



"Văn Cao và Trịnh"

Chuyện bên lề


Trịnh Công Sơn là người có quan hệ xã hội rất rộng, bạn bè và người quen của ông sống nhiều nơi trên thế giới, kể cả người Việt và người nước ngoài. Ông có nhiều người bạn hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, dĩ nhiên những người mà ông gần gũi nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc, hội họa và văn chương. Trịnh Công Sơn là thành viên trong nhóm "Những người bạn" (bao gồm nhạc sĩ Thanh Tùng, Từ Huy, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Hiên, Nguyễn Ngọc Thiện...). Ông rất thích uống "rượu Tây", thích học ngoại ngữ, do đó ông nói tiếng Anhtiếng Pháp khá trôi chảy. Trong môi trường thân mật, mỗi khi ngẫu hứng, Trịnh Công Sơn thường nói hai ngoại ngữ này với bạn bè, thậm chí nói với cả người sơ giao nếu cảm thấy "vui vẻ" vì đồng điệu.




"Khánh Ly và Trịnh"


*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Feb 2015 lúc 8:11pm

CHUYỆN TÌNH CHƯA ĐƯỢC KỂ CỦA AUNG SAN SUU KYI

Bốn năm trước, khi tôi bắt đầu nghiên cứu một kịch bản phim về Aung San Suu Kyi, tôi đã không kỳ vọng khám phá được một trong những câu chuyện tình yêu vĩ đại của thời đại chúng ta. Tuy nhiên, những gì hiển hiện ra là một câu chuyện rất lãng mạn – và cũng rất đau buồn – giống như một kịch bản phim tình cảm lâm li kiểu Hollywood: một cô gái đẹp sắc sảo nhưng kín đáo từ phương Đông gặp một chàng trai đẹp và sôi nổi từ phương Tây…
 





 
Đối với Michael Aris, câu chuyện là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, và cuối cùng ông đã cầu hôn Suu giữa những ngọn núi phủ tuyết trắng của Bhutan, nơi ông làm gia sư cho gia đình hoàng gia của quốc gia này.
 
Trong 16 năm tiếp theo, bà trở thành người vợ tận tụy của ông và người mẹ của hai con, cho đến khi tình cờ bị cuốn vào chính trị trong một chuyến đi ngắn tới Miến Điện và không bao giờ trở về nhà.
 
Buồn thay, sau 10 năm vận động để cố gắng giữ cho vợ an toàn, Michael đã chết vì ung thư mà không bao giờ được nói lời tạm biệt.
 
Tôi cũng phát hiện ra rằng lý do không ai biết về câu chuyện này là vì Tiến sĩ Michael Aris đã nỗ lực để giữ cho gia đình của Suu nằm ngoài con mắt của công chúng. Giờ đây, chỉ khi các con trai của họ đã lớn – và Michael đã qua đời – bạn bè và gia đình của họ cảm thấy đã đến lúc để nói chuyện một cách cởi mở với niềm hãnh diện lớn về vai trò thầm lặng của ông. (vietinfo.eu)

Là con gái của một anh hùng Miến Điện vĩ đại là tướng Aung San, người đã bị ám sát khi bà mới hai tuổi, Suu đã được xây dựng một ý thức mạnh mẽ về di sản chưa hoàn thành của cha.
 





 
 
Năm 1964, bà được mẹ là nhà ngoại giao gửi đi học Chính trị, Triết học và Kinh tế học tại Oxford (Anh Quốc), nơi người giám hộ của bà, ngài Gore-Booth, giới thiệu bà với Michael. Lúc đó, Michael đang nghiên cứu lịch sử tại Durham, nhưng luôn có một niềm đam mê đối với Bhutan – và ở Suu, ông đã tìm thấy hiện thân lãng mạn của tình yêu lớn của mình đối với phương Đông…
 
Nhưng khi bà chấp nhận lời cầu hôn của ông, bà đã đưa ra một thỏa thuận: nếu đất nước bà cần, bà sẽ phải đi. Và Michael đã sẵn lòng đồng ý.
 
Trong 16 năm tiếp theo, Suu Kyi đã thăng hoa sức mạnh cá tính lạ thường của mình và trở thành bà nội trợ hoàn hảo. Khi hai cậu con trai, Alexander và Kim, được sinh ra, bà đã trở thành một người mẹ yêu con quá mức, bà đã chú ý các tiểu tiết khi tổ chức các bữa tiệc cho con và luôn nấu ăn tinh tế. Bà thậm chí làm thất vọng những người bạn theo chủ nghĩa nữ quyền của mình, khi nhất định ủi vớ cho chồng và tự dọn dẹp nhà cửa…
 





 
Tiến sĩ Michael Vaillancourt Aris (27 tháng 3 năm 1946 - 27 Tháng 3 năm 1999) trở thành một học giả phương Tây hàng đầu về các nền văn hóa Bhutan, Tây TạngHy Mã Lạp Sơn, ông đã viết nhiều cuốn sách về Phật giáo
 
Rồi vào một buổi tối yên tĩnh năm 1988, khi các con trai được 12 và 14 tuổi, bà và Michael đang ngồi đọc sách tại Oxford, một cuộc gọi điện thoại đã cho biết mẹ của Suu bị đột quỵ.
 
Bà ngay lập tức bay về Rangoon cho những việc mà bà nghĩ sẽ chỉ mất vài tuần… Bà thấy một thành phố trong tình trạng hỗn loạn. Một loạt các cuộc đối đầu bạo động với quân đội đã đưa đất nước đến chỗ bế tắc .
 
Khi bà đến Bệnh viện Rangoon để chăm sóc mẹ, bà thấy các khu vực đầy những sinh viên bị thương và hấp hối… Kể từ khi các cuộc họp công cộng bị cấm, bệnh viện đã trở thành tâm điểm của một cuộc cách mạng không có thủ lĩnh, rồi từ đó đột nhiên danh tiếng Con Gái của Đại tướng vĩ đại đang ở tại bệnh viện đã lan ra như lửa cháy rừng…

Khi một đoàn đại biểu của các học giả đề nghị Suu lãnh đạo một phong trào dân chủ, bà đã ngập ngừng đồng ý, với ý nghĩ rằng một khi một cuộc bầu cử được tổ chức, bà sẽ được tự do để quay trở lại Oxford.
 





 
 
Chỉ hai tháng trước đó, bà đã từng là một bà nội trợ tận tụy; giờ đây bà thấy mình dẫn đầu một cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại một chế độ dã man. Ở Anh, Michael chỉ có thể lo lắng theo dõi các tin tức khi Suu kinh lý Miến Điện, tiếng tăm của bà tăng vọt, trong khi quân đội quấy rối bà từng bước đi, bắt và tra tấn nhiều thành viên trong đảng của bà… Ông bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi rằng bà có thể bị ám sát giống như cha của bà.
 
Vào năm 1989 khi bà bị quản thúc tại gia, niềm an ủi duy nhất của ông là ít nhất có thể giúp giữ cho bà an toàn. Michael giờ đây đáp lại tất cả những năm Suu đã dành cho ông bằng một lòng vị tha đáng kể của riêng mình, ông bắt tay vào một chiến dịch cấp cao để gây dựng hình ảnh của bà như một biểu tượng quốc tế mà quân đội sẽ không bao giờ dám hại.
 
Tuy nhiên, ông đã cẩn thận giữ cho công việc của mình kín đáo, bởi vì khi bà nổi lên như nhà lãnh đạo của một phong trào dân chủ mới, quân đội đã lấy thực tế là bà đã kết hôn với người nước ngoài làm cơ sở cho một loạt xuyên tạc man rợ – và thường là thô bỉ về giới tính – trên báo chí Miến Điện.





 
 
Trong năm năm tiếp theo, khi các con trai của bà đã trở thành những thanh niên, Suu vẫn còn bị quản thúc tại gia và kìm giữ trong sự cô lập. Bà đã giữ vững bản thân mình bằng cách học ngồi thiền, đọc nhiều về Phật giáo và nghiên cứu các tác phẩm của Mandela và Gandhi… Michael đã chỉ được phép đến thăm bà hai lần trong thời gian đó.
 
Tuy nhiên, đây là một kiểu bỏ tù rất đặc biệt, vì bất cứ lúc nào Suu cũng có thể yêu cầu được đưa tới sân bay và về với gia đình. Bởi quân đội luôn muốn đẩy bà ra khỏi đất nước Miến Điện để không hoạt động chính trị được nữa .(vietinfo.eu)

Nhưng cả hai đều không bao giờ dự tính rằng bà sẽ làm một điều như vậy. Trên thực tế, là một nhà sử học, thậm chí khi Michael khắc khoải lo âu và tiếp tục gây sức ép lên các nhà chính trị phía sau hậu trường, ông đã biết bà là một phần của lịch sử đang diễn ra.
 






 
 
Ông giữ nguyên cuốn sách bà đã đọc khi bà nhận được cuộc gọi điện thoại triệu về Miến Điện. Ông trang trí các bức tường với giấy chứng nhận của nhiều giải thưởng bà đã giành được bấy giờ, trong đó có giải Nobel Hòa bình năm 1991. Và bên giường ngủ của mình, ông treo một bức ảnh lớn của bà…
 
Chắc hẳn, trong thời gian dài khi không có cách nào liên lạc được, ông đã sợ Suu có thể đã chết, và chỉ khi có tin tức nhỏ nhặt từ những người qua đường nghe thấy tiếng đàn piano ngân ra từ ngôi nhà của bà, ông mới cảm thấy yên tâm. Nhưng, khi sự ẩm ướt của thời tiết Đông Nam Á cuối cùng đã phá hủy cây đàn piano, sự bảo đảm mong manh đó cho ông cũng không còn nữa.
 
Sau đó, vào năm 1995, Michael khá bất ngờ nhận được một cuộc gọi từ Suu. Bà đã gọi từ Đại sứ quán Anh, bà nói. Bà lại được tự do ! Michael và các con trai đã được cấp thị thực và đã bay ngay tới Miến Điện. Khi Suu nhìn thấy Kim, con trai của mình, bà đã rất ngạc nhiên vì anh đã trở thành một người đàn ông trẻ tuổi. Bà thừa nhận rằng có thể bà đã đi ngang qua anh trên đường phố, mà chẳng biết đó là con trai mình !...
 






 
 
Nhưng Suu nay đã trở thành một người phụ nữ hoàn toàn chính trị, những năm bị cô lập đã cho bà một quyết tâm cứng rắn, và bà quyết định ở lại đất nước của mình, ngay cả khi cái giá phải trả là cách xa gia đình mình lâu hơn nữa… (vietinfo.eu)

Nhà báo Fergal Keane, người đã gặp Suu nhiều lần, mô tả bà có một tinh thần thép. Khả năng phục hồi tuyệt đối lòng can đảm ở bà đã làm tôi kinh sợ khi viết kịch bản cho The Lady. Câu hỏi đầu tiên nhiều phụ nữ hỏi khi họ nghe câu chuyện của Suu là làm thế nào bà có thể xa những đứa con của mình như vậy ? Kim đã nói đơn giản: "Bà đã làm những gì bà phải làm." Bản thân Suu Kyi đã từ chối nói về vấn đề này, mặc dù bà thừa nhận rằng những giờ phút đen tối nhất của bà là khi "Tôi sợ các con có thể cần tôi".
 
Chuyến thăm của Michael vào năm 1995 là lần cuối cùng Michael và Suu được phép gặp nhau. Ba năm sau, ông được biết mình bị ung thư giai đoạn cuối. Ông đã gọi Suu để phá tan tin xấu và lập tức xin thị thực để ông có thể trực tiếp nói với Suu lời tạm biệt. Khi bị từ chối, ông đã thử đi thử lại 30 lần vì sức khỏe nhanh chóng yếu đi… Một số nhân vật nổi tiếng – trong đó có Đức Giáo Hoàng và Tổng thống Clinton – đã viết thư kêu gọi chính quyền Miến Điện cho phép, nhưng tất cả đều vô ích.
 






 
 
Cuối cùng, một quan chức quân sự đã đến gặp Suu. Tất nhiên bà có thể nói lời tạm biệt với người chồng yêu dấu, ông nói, nhưng làm như vậy bà sẽ phải trở lại Oxford. Sự lựa chọn ngầm đã ám ảnh bà suốt 10 năm xa cách chồng, bây giờ đã trở thành một tối hậu thư rõ ràng: đất nước hoặc gia đình ?
 
Bà đã bị quẫn trí. Nếu bà rời khỏi Miến Điện, cả hai vợ chồng bà đều biết điều đó có nghĩa là lưu vong lâu dài – rằng tất cả những gì họ đã cùng nhau chiến đấu sẽ trở thành vô ích. Suu đã gọi điện thoại cho Michael từ Đại sứ quán Anh khi có thể, và ông vẫn kiên quyết rằng bà không cần cân nhắc về điều đó, hãy giữ vững sự đấu tranh ! (vietinfo.eu)

Khi tôi gặp  người anh em sinh đôi của Michael là Anthony, ông đã nói với tôi về điều mà ông chưa bao giờ nói với bất cứ ai trước đây. Ông nói rằng một lần Suu nhận ra rằng bà sẽ không bao giờ nhìn thấy Michael nữa, bà đã mặc chiếc váy với màu sắc mà Micheal yêu thích, cài một bông hồng trên mái tóc của mình, rồi đến Đại sứ quán Anh, nơi bà ghi lại một bộ phim ngắn để tạm biệt ông, trong đó bà nói với ông ấy rằng tình yêu ông dành cho bà đã là chỗ dựa của bà…
 






 
 
Bộ phim được lén đưa ra khỏi nước Miến Điện, nhưng chỉ đến nơi ở Anh hai ngày sau khi Michael đã qua đời. Trong nhiều năm sau đó, tình hình nhân quyền của Miến Điện xấu đi, có vẻ như sự hy sinh lớn lao của gia đình Aris là vô ích…
 
Tuy nhiên, thời gian gần đây, quân đội cuối cùng đã công bố mong muốn của họ cho sự thay đổi chính trị. Và sau 22 năm thao thức của Suu, bà đã được đặt vào vị trí riêng biệt để tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi như vậy – nếu và khi điều đó tới – một cách chính xác như Mandela đã làm rất thành công cho Nam Phi.
 
Khi họ luôn tin rằng nó sẽ là như vậy, giấc mơ dân chủ của Suu và Michael vẫn có thể trở thành hiện thực !
 

Nguồn: Thu Hương, Trang Nhung chuyển ngữ/ Dân Luận (vietinfo.eu)








 
 
 


Đã được chỉnh sửa bởi Liêm - 21 Feb 2015 lúc 8:15pm
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 13 Apr 2015 lúc 7:17pm





JOHN D. ROCKERFELLER
 
 
John D. Rockefeller đã làm được ba việc hơi khác thường trong đời ông.

Việc thứ nhất là đã gây được một gia tài có lẽ lớn nhất trong lịch sử. Khi ông bước vào đời, ông phải đi đào khoai tây dưới ánh nắng gay gắt để kiếm được mỗi giờ bốn xu. Hồi mà khắp Hoa Kỳ không có tới sáu nhà triệu phú thì John Rokefeller đã gây nổi một gia tài khoảng một hai tỷ Mỹ kim.

Việc thứ nhì là John D. Rockefeller giúp cho mọi cơ quan một số tiền lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Ông đã giúp sáu triệu Mỹ kim, tính ra từ khi đức Chúa Ki Tô ra đời đến nay, cứ mỗi phút ông phân phát sáu cắc rưỡi, hoặc từ khi Moise dắt dân Israel qua Hồng Hải đến nay, luôn ba ngàn năm, cứ mỗi ngày ông phân phát sáu trăm Mỹ kim.

Vậy mà thiếu nữ ông mê lần đầu tiên lại chê ông. Tại sao? Tại bà mẹ cô ta bảo không khi nào chịu gả con cho một anh chàng không có tương lai.

Việc thứ ba cũng hơi đặc biệt nữa là ông sống chín mươi bảy tuổi. Ông là một trong những người bị tất cả Châu Mỹ ghét nhất. Ông nhận được hàng ngàn bức thư đe dọa ông. Suốt ngày đêm phải có lính hộ vệ ông, khí giới đầy đủ. Công việc chỉnh lý và điều khiển vô số xí nghiệp của ông làm thần kinh và cơ thể ông căng thẳng ghê gớm, vậy mà ông chịu nổi.

Harriman, nhà chuyên môn xây đường xe lửa, làm việc mệt quá, chết hồi sáu mươi mốt tuổi.

Woolworth, người sáng lập những tiệm bán hàng giá độc nhất ở khắp nước, chết hồi sáu mươi tám tuổi.

John D. Rockefeller gây được một gia tài gấp mấy lần gia tài của Harriman, Woolworth, Duke hợp lại . Mà xin bạn nhớ rằng trong một triệu người chỉ có ba người thọ được đến chín mươi bảy tuổi. Và trong trăm triệu người không chắc có được một người sống tới tuổi đó mà không phải dùng răng giả: John Rockefeller tới chín mươi bảy tuổi vẫn còn đủ răng!

Bí quyết sống lâu của ông ở đâu? Chắc chắn là do di truyền, nhưng cũng nhờ bản tính ông điềm tỉnh nữa. Không bao giờ người ta thấy ông nóng nảy, cũng không bao giờ ông vội vàng.

Khi ông làm Giám Đốc công ty Standard Oil, ông kê một chiếc đi-văng trong phòng giấy ở Broadway, và muốn gì thì gì, mỗi bữa trưa ông cũng đánh một giấc nửa giờ. Ông giữ thói quen mỗi ngày ngủ năm giấc ngắn cho tới khi mất.

Hồi năm hai mươi lăm tuổi ông mới bệnh đau lần đầu. Thật là một tin mừng và rất quan trọng đối với y học vì khi khỏi bệnh, ông tặng cả triệu Mỹ kim vào các công việc nghiên cứu y học. Nhờ vậy mà ngày nay Viện Rockefeller mỗi tháng tiêu được khoảng một triệu Mỹ kim vào các chiến dịch diệt bệnh ở khắp thế giới.

Năm 1923 tôi đương ở Trung Hoa thì bệnh thời khi hoành hành ghê gớm ở đó, và ở giữa cảnh nghèo nàn và ngu dốt của người Trung Hoa, tôi có thể lại Bắc Binh tiêm thuốc ngừa bệnh ở Viện Rockefeller. Trước ngày đó tôi không thấy được công ông giúp hạng người đau khổ ở châu Á và những nơi hẻo lánh nhất thế giới... Viện Rockefeller đã rán diệt loài sán. Hiện nay Viện đương tấn công bệnh rét rừng và các y sĩ của viện đã tìm thấy thuốc trừ một bệnh sốt rét ghê gớm, bệnh hoàng ngược.

Nhưng con người giàu nhất thế giới đó xây dựng sự nghiệp khổng lồ cách nào?

Ngay từ hồi nhỏ ông đã có tư cách tỏ rằng sau này sẽ thành công. Ông là con một y sĩ lang thang. Cha của ông thường đi nơi này nơi khác, để mẹ con ông ở nhà, trong một trại ruộng tại Moravia, gần hồ Owasco, giữa một xứ của dân da đỏ.

Một hôm John thấy một con gà mái rừng đi tìm chỗ yên tĩnh để làm ổ. Mẹ ông bảo ông đi kiếm ổ gà đó rồi bắt con gà đem về trại nuôi. Ông mất hai ngày mà không có kết quả. Nhưng, đúng như lời một người viết tiểu sử ông chép lại chuyện đó, ông có cái "Thiên tài kiên tâm", "Một sức kiên tâm tàn nhẫn, không gì lay chuyển được". Ông không chịu thua, tiếp tục rình con gà, theo dõi nó hoài và hai ngày sau, ông bắt được cả mẹ lẫn con về trại.

Lần nuôi gà đó là công việc làm ăn đầu tiên của ông. Ông bán được tiền, bỏ vào một chiếc chén rạn nứt . Để kỷ niệm bước đầu đó, sau này, trong cái trang trại nổi tiếng rộng bốn ngàn mẫu của ông ở Pocantico Hills, luôn luôn ông nuôi một bầy gà mái tây cho tới khi ông chết.

Đi học ông cũng siêng năng nhưng không có nhiều kết quả. Ông chỉ thích môn toán. Sau này ông bảo:

- Tôi chỉ là một người thích những con số. Ông tập tìm hiểu nghĩa của các số đi. Nó sẽ cho ông biết nhiều sự thực cay đắng mà thấy rõ được tương lai.

Ông được mười một tuổi khi thân mẫu ông ở nhà một mình, phải chống cự với cảnh cơ hàn để nuôi năm người con. Ông phải làm mướn cho một chủ trại láng giềng và ki cóp tiền công cho tới khi trong cái chén rạn nứt của ông có được năm mươi lăm Mỹ kim. Lúc đó ông đem trọn số tiền cho chủ vay, lời bảy phân, và ông thấy rằng số vốn đó mỗi năm đem lại cho ông một số tiền bằng tiền công mười ngày làm việc mệt đừ.
Ông nói:

- Thế là tôi giải quyết được vấn đề. Tôi quyết định ngay là sẽ bắt tiền bạc làm nô lệ cho tôi, chứ không chịu làm nô lệ cho tiền bạc nữa.

Vài năm sau, John D. Rockefeller vào làm thư ký trong một tiệm bán buôn đồ tạp hoá ở Cleveland. Ông làm phụ về kế toán rồi lên làm sếp kế toán. Chủ không chịu tăng lương, ông xin thôi, cùng với hai bạn thân, ra mở tiệm. Trong công việc làm ăn này, ông chỉ trông nom sổ sách. Công việc phát triển, nhưng chàng thanh niên Rockefelle tiếp tục sống quá giản dị: Chàng để dành vốn.

Kế đó, ở Clevelanl người ta ùa nhau đi kiếm dầu lửa, ông cũng theo gót người ta đi kiếm dầu. Trái hẳn với điều nhiều người tưởng, không phải dầu lửa làm cho Rockefeller giàu có: Rockefeller là cái máy làm ra tiền, bất kỳ ở đâu cũng làm giàu được, dù là bán tạp hoá hay bán dầu lửa. Nhưng dầu lửa mở cho ông những thị trường rộng lớn hơn.

Chỉ trong vài năm, anh chàng bán tạp hóa tư bản đó (lúc ấy vốn của ông đã quan trọng), bỏ việc kế toán của tiệm để đảm nhiệm công việc kế toán trong nhà máy lọc dầu. Xí nghiệp phát triển, số lời tăng lên, nhưng luôn luôn ông đập lời vào vốn.

Ký hiệu của Rockefeller là cục tuyết, càng lăn trên tuyết thì càng lớn lên. Lần đầu ông nuốt hết những hãng lọc dầu cạnh tranh với ông. Khi ông về Nữu Ước, ông đã tỷ phú mà ráng làm không cho ai biết mình.

Những tỷ phú khác thì yến tiệc lưu liên, sắm du thuyền, lập chuồng nuôi ngựa đua, cất lâu đài ở Ecosse, còn ông thì sống như một tiểu tư sản lương thiện trong một gia đình nhũn nhặn, kiểu mẫu.

Thói quen của ông sau này có thay đổi, mức sống của ông có tăng lên, nhưng số chi tiêu bao giờ cũng ở dưới số tăng của tiền lời. Về già ông dựng một trang trại quá sức tưởng tượng, tức trại Pocantico Hills: mấy ngàn mẫu rừng, bãi cỏ, vườn tược, trong đó có đường cái, dòng nước và bảy mươi lăm biệt thự cho con cháu !

Nhưng nếu John D. Rockefeller lập trại đó hai chục năm trước, thì ông đã không còn là John D. Rockefeller, nhà giữ kỷ lục khắp thế giới về việc gây vốn nữa. Và khi ông lập trại thì phí tổn không thấm vào đâu so với số lời của ông: hiện nay mỗi tháng ông lời trên sáu triệu Mỹ kim, không có cách tiêu pha điên cuồng nào mà hết được số tiền ấy.

Bây giờ thì cái xa xỉ lớn nhất của ông không thuộc về đời tư của ông nữa, mà thuộc về những công việc từ thiện, việc xây dựng những viện khảo cứu khoa học, việc trợ cấp để bảo tồn điện Versailles, nhà thờ Reims và biết bao bảo vật khác của văn minh...

Và mặc dầu tiêu pha nhiều như vậy, gia tài của John D. Rockefeller cũng vẫn tiếp tục tăng theo cái mức trên dưới một trăm Mỹ kim mỗi phút!
 
Tác giả : Dale Carnegie
Người dịch : Nguyễn Hiến Lê



Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.125 Giây.