Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Chi hội Kiev
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận RSS Feed: HẤP HÀO HOA
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

HẤP HÀO HOA

 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 167168169
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
MinhHuyenGorski Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Đã gia nhập: 31 Mar 2010
Địa chỉ: Châu Âu
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 559
  Trích dẫn MinhHuyenGorski Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 07 Jan 2018 lúc 9:04pm



Liêm ơi,

cám ơn Liêm gửi mình địa chỉ trang Facebook cá nhân. Ôi mình vẫn chưa lập tài khoản trên Facebook và cũng chưa thực hiện được các giao dịch ở đó.

Mình vào diễn đàn Kiev từ năm 2010 được gặp lại toàn là các bạn học cũ tuyệt vời nên muốn ở lại đây đến 2020, cho đến ngày kỷ niệm 10 năm mình tham gia diễn đàn Kiev cùng các bạn, rồi sau đó nếu còn khỏe mạnh thì mình sẽ vào Facebook.
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 10 Jan 2018 lúc 7:44pm

Chào Minh Huyền !

Chúc bạn vui với những điều ưa thích ! 
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 14 Jan 2018 lúc 6:53pm

NHỚ BẠN

Khoảng năm 1968, tôi thường ưa thích đến Thư viện Hà Nội trên đường Bà Triệu (Hà Nội) để đọc sách, học bài, hoặc thỉnh thoảng nghe các cuộc nói chuyện về văn thơ, âm nhạc, chính trị…
 
Một hôm, tôi đang ngồi trong góc kín đáo để đọc sách, thì hai chàng thanh niên lạ cũng trạc tuổi tôi đến chào và lịch sự hỏi :”Bạn tên là Liêm phải không ?”. Tôi ngạc nhiên trả lời :”Vâng”. Họ hỏi tiếp :”Có phải bạn đang đọc cuốn “Bông hồng vàng” của Pautovski không ?” . Tôi càng ngạc nhiên, gật đầu :”Vâng”. Thế là hai người liền ngồi xuống đối diện tôi, mừng rỡ nói rằng họ đang rất cần cuốn sách ấy để tìm dẫn chứng cho một bài tập văn nào đó… Nhưng vì nhà ở xa tận Bưởi, nên mỗi lần đến đây thì cuốn sách ấy đã bị mượn mất rồi . Đây là lần thứ ba họ không thể mượn cuốn sách cần đọc, nên cô nhân viên thư viện cho họ biết tên tôi, và chỉ dẫn họ đến gặp tôi .
 
Thế là chúng tôi vui vẻ làm quen . Một người tên là Thạc, còn người kia tên là Lăng . Chúng tôi hết sức ngạc nhiên vì hóa ra tất cả đều đang cùng học tại trường cấp 3 Yên Hòa B, nhưng họ học trên tôi một lớp… Lần đầu tiên gặp nhau là như vậy .
 
*

Khoảng 10 năm sau, tôi thường đến uống rượu trong một nhà hàng nằm trên đường Hai Bà Trưng ở Sài Gòn, nhiều khi chỉ uống rượu một mình . Hằng đêm, thường có một ca sĩ mù ăn mặc lam lũ, vai đeo cây đàn ghi-ta, được cô bé con dẫn dắt đi quanh các bàn nhậu để ca hát mua vui, nhận vài đồng tiền thưởng của khách...

Đối với riêng tôi, giọng ca của anh mù khá truyền cảm . Mỗi khi đã ngà ngà, tôi thường yêu cầu anh hát đi hát lại bài “Hát cho một người nằm xuống” của Trịnh Công Sơn . Tôi  lắng đọng nghe bài hát này trong trạng thái mê say, nửa tỉnh nửa mơ…, và dường như được gặp lại người bạn cũ năm xưa Nguyễn Văn Thạc…

Nguyễn Văn Thạc, cùng biết bao người lính đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt, đẫm máu của toàn thể dân tộc Việt Nam ! Một cuộc chiến tranh làm tan vỡ không biết bao nhiêu gia đình Việt Nam ở cả 2 miền Nam Bắc, bởi vì vô số gia đình đã có người của 2 phe chống đối lẫn nhau, căm thù lẫn nhau, bắn giết lẫn nhau…

Đau xót trong tim !

*

HÁT CHO MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG

Tác giả: Trịnh Công Sơn.

Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây,
Đã vui chơi trong cuộc đời này,
Đã bay cao trên vòm trời đầy,
Rồi nằm xuống,
không bạn bè, không có ai...
Không có ai, từng ngày
Không có ai, đời đời, ru anh ngủ vùi.
Mùa mưa tới, trong nghĩa trang này, có loài chim... thôi!

Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên,
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn,
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn.
Rồi từ đó trong trời rộng,
Đã vắng anh,
Như cánh chim bỏ rừng,
Như trái tim bỏ tình.
Nơi đây một lần, nhìn anh đến,
Những xót xa đành nói cùng hư không.

Bạn bè còn đó, anh biết không anh?
Người tình còn đây, anh nhớ không anh?
Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên,
Khi bóng anh, như cánh chim... chìm... xuống.
Vùng trời nào đó anh đã bay qua?
Chỉ còn lại đây những sáng bao la,
người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ!

Anh nằm xuống như một lần vào viễn du,
Đứa con xưa đã tìm về nhà.
Đất hoang vu khép lại hẹn hò.
Người thành phố, trong một ngày
Đã nhắc tên...
Những sớm mai... lửa đạn,
Những máu xương... chập chùng,
Xin cho một người, vừa nằm xuống..
Thấy bóng thiên đường,
Cuối trời... thênh thang.



Đã được chỉnh sửa bởi Liêm - 14 Jan 2018 lúc 7:29pm
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 20 Jan 2018 lúc 6:25pm

TÌNH BẠN và “CHO MỘT NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG”

Rất nhiều người đã nghe bài hát “Cho một người vừa nằm xuống” từ sau biến cố Tết Mậu Thân, năm 1968, nhưng chắc ít ai biết rõ những tình tiết đưa đến sự ra đời của nhạc phẩm này, để đến cả 40 năm sau vẫn còn có người muốn tìm hiểu.

Với những ai không quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) – là tác giả bản nhạc – dù có nghe, hay đọc kỹ lời ca cũng khó có thể biết nhân vật được nói đến là ai. Chỉ biết người ấy mới qua đời, và lúc còn sống đã có dịp bay cao trên trời.

Để hiểu rõ câu chuyện, có lẽ phải nhìn lại từ năm 1962. Đó là năm nữ ca sĩ Khánh Ly (KL) thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình, trình diễn ở phòng trà Anh Vũ, một trong vài phòng trà ca nhạc (sống) lúc nào cũng chật ních giới thưởng ngoạn, trên đường Bùi Viện ở Sài Gòn.
Ca sĩ Khánh Ly ghi lại trong “Chuyện kể sau 40 năm” – chú thích trong ngoặc đơn là của Nguyên Giao: “… Tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ, và chính ở đó, tôi gặp Trung úy Không quân Lưu Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn (người anh ruột của KL – không phải là TCS) và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn… hát tiếp những bài tôi vừa hát; Đặc biệt là bài ‘Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa’… Anh bảo… Mai (tên thật của KL) chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa… Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vì anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này…

Nhưng cuối năm 1962, KL lại rời Sài Gòn lên hát cho một phòng trà khác ở Đà Lạt, và lưu lại đó 5 năm. Năm 1964, tại Đà Lạt, KL gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ TrỊnh Công Sơn (TCS). Rất nhiều lần TCS đề nghị KL về Sài Gòn đi hát với ông, nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp.

Đến năm 1967, ca sĩ KL tình cờ gặp lại nhạc sĩ TCS giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu như đưa đẩy định mệnh.

Vài hôm sau, trên nền gạch đổ nát của bãi đất rộng sau trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Tại đây, giọng hát khàn đục, và lôi cuốn của KL đã làm ngẩn ngơ, bàng hoàng & ngất ngây cả một thế hệ với những bản tình ca, và Ca Khúc Da Vàng mới lạ của TCS…

Hãy nghe bà Đặng Tuyết Mai – trước là phu nhân của Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ (NCK) lúc giữ chức Thủ tướng VNCH -  mô tả liên hệ giữa Lưu Kim Cương (LCK) và Trịnh Công Sơn (TCS) trong một cuộc phỏng vấn năm 2009 ở Hoa Kỳ:

… Anh Lưu Kim Cương (LKC) và chị rất là say mê nhạc của anh TCS và con người của anh TCS nữa. Chị hay nấu nướng. Trong Câu lạc bộ Không quân, anh LKC có một câu lạc bộ nhỏ là Mây Bốn Phương, luôn luôn kéo anh TCS vào đó. Chị đem đồ nhậu đến. Anh TCS làm được bài nhạc mới là hát, và hay tả cho nghe. Chị hay đến câu lạc bộ Mây Bốn Phương để nghe anh TCS đàn hát những bài hát mới. Giao tình của anh TCS với anh LKC rất mật thiết. Cũng lạ, một người rất là nhà binh, to lớn, cường tráng. Còn anh TCS rất là mỏng manh, ốm yếu. Nhưng hai người gần nhau vô cùng trong tình nghệ sĩ. Anh LKC có rất nhiều nghệ sĩ tính, hát rất hay. Thành ra, họ rất thân mến với nhau. Hàng tuần, họ gặp nhau hai, ba lần …

Từ năm 1967, Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Phó Tổng thống VNCH, có Trung tá Lưu Kim Cương trong số những sĩ quan thân tín Không quân chung quanh.

Đúng mùng một Tết Mậu Thân (31 tháng Giêng năm 1968), một cánh quân của quân đội miền Bắc Việt Nam tấn công căn cứ Không quân trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Có mặt tại căn cứ, Lưu Kim Cương đã “không quân đánh bộ” thành công, chỉ huy đánh trả và chiến thắng hôm 23 tháng Hai, và được vinh thăng Đại tá.

Mặc dù bị tổn thất nặng nề trong cuộc tổng công kích đợt 1 Tết Mậu Thân, tới trung tuần tháng 4 năm 1968, quân đội miền Bắc Việt Nam lại mở cuộc tổng công kích đợt 2.

Nhật báo Chính Luận ở Sài Gòn trong số ra ngày mùng 7, tháng 5, năm 1968 đăng tin: “Sáng ngày mùng 2 tháng 5 vào hồi 10 giờ, Ðại tá Lưu Kim Cương, Tư Lệnh Không Ðoàn 33 đã bị tử thương trong lúc ông đương đích thân chỉ huy một đơn vị bảo vệ vòng đai phi trường để đẩy lui một cánh quân Việt Cộng tại khu nghĩa trang Pháp gần ngã tư Bảy Hiền. Ông đã bị một lính Việt Cộng thủ súng B40 (phóng lựu đạn, để bắn xe tăng) vẫn còn sống, bắn một trái B40 trúng tấm mộ bia ngay bên cạnh Ðại tá Cương, sức nổ và miểng đạn đã chặt đứt một cánh tay của ông và gây thêm nhiều vết thương nặng khác, khiến ông tắt thở tại chỗ. Một phóng viên truyền hình Pháp chạy theo Ðại tá Cương cũng bị tử thương ngay bên .

Ðại tá Lưu Kim Cương năm nay 34 tuổi, có 2 con. Ông là người rất vui tính, có nhiều máu văn nghệ, chiếm được nhiều cảm tình trong giới quân đội cũng như báo chí. Tưởng cũng nên ghi nhận đây là lần đầu tiên một sĩ quan mang cấp Tá của quân đội VNCH nói chung và của Không quân VN nói riêng đã hy sinh trong lúc trực chiến với địch
.”

Nhà báo/Nhà văn Văn Quang có ghi lại: “Một buổi chiều năm Mậu Thân 1968, ngồi ở nhà hàng Pagode, tôi gặp Khánh Ly và Ngọc Anh đi cùng Trịnh Công Sơn. Chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm chiều. Ăn ở một quán bụi xong đã đến giờ giới nghiêm – thời gian đó Sài Gòn giới nghiêm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. Khánh Ly nhờ tôi đưa Trịnh Công Sơn về … Đêm đó là đêm đầu tiên tôi đưa Trịnh Công Sơn về building Cao Thắng . Ở cái building đó chỉ có một phòng gắn máy lạnh, là của một thương gia bán huy chương ở ngay chợ Bến Thành thuê làm phòng riêng, cho tôi ở chung nhưng không lấy tiền. Sơn mang đến cây đàn guitar, ở lại phòng tôi vài ngày, tôi không nhớ rõ bao nhiêu ngày. Nhưng chính ở đó anh sáng tác hoặc hoàn tất bản ‘Tình Xa’. Tôi có cái máy ghi âm hiệu Akai, trong khi tôi đi làm, Sơn vẫn thường dùng để nghe lại bản nhạc mình đang hoàn thành.

Rồi chợt một hôm nghe tin Lưu Kim Cương chết ở phi trường Tân Sơn Nhất, Khánh Ly lên phòng tôi, cô ngồi lặng, Sơn chỉ nhìn và cũng lặng yên. Ít ngày sau, bài ‘Cho Một Người Vừa Nằm Xuống’ ra đời …
“.

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Jan 2018 lúc 7:22pm
MỘT SĨ QUAN MỸ HỒI TƯỞNG VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Tháng 01/1967, tôi 26 tuổi, là Đại úy Thủy quân lục chiến Mỹ, chỉ huy một đại đội biệt kích 224 người – Đại đội C, Tiểu đoàn I, Trung Đoàn I, Sư Đoàn I – đóng quân gần Đà Nẵng, gần biên giới với Bắc Việt Nam. Khi ấy, tôi đã ở đó được bốn tháng và đã dần có kinh nghiệm với các trận đánh nhỏ. Ở trong một đại đội biệt kích – rõ ràng là mũi nhọn trong lưỡi dao chính sách của Mỹ – không tồn tại nhiều tư duy chiến lược. Những nhiệm vụ chiến thuật hàng ngày, được thiết kế để giúp chúng tôi đạt được các mục tiêu quân sự, đã chi phối hoạt động của đại đội.

Cuộc sống hàng ngày chỉ xoay quanh những cuộc tuần tra nhỏ và liên tục của các nhóm 15 đến 45 người, với nhiệm vụ tìm và diệt hoặc bắt sống du kích Việt Cộng. Chúng tôi thường lập ra một khu trại có thể được phòng vệ bởi một phần ba đại đội; những người còn lại sẽ đi tuần tra, hoặc nếu là mùa gặt, thì đảm bảo an ninh cho nông dân trong làng.

Chúng tôi dùng mũ nồi để lấy nước tắm gội và ăn các suất ăn chiến trường làm từ đồ hộp, không cần phải nấu hay hâm nóng. Các thực phẩm này được tăng cường protein; ba bữa ăn chính mỗi ngày cung cấp khoảng 3.500 calo. Cứ vài ngày, xe bọc thép sẽ lại đem đến cho chúng tôi thức ăn, quần áo sạch và thư tín, cũng như đạn dược, lựu đạn, mìn sát thương, kẽm gai, túi cát và các phụ tùng thay thế cho vũ khí bị hỏng.

Đại đội chúng tôi chịu trách nhiệm về an ninh ở một huyện rộng khoảng 10 dặm vuông và thực hiện mọi công việc, gồm chăm sóc y tế cho người dân, hỗ trợ lính địa phương, lực lượng cảnh sát và quân đội thường trực của Việt Nam (Cộng hòa). Nhưng nhiệm vụ chính của chúng tôi là tìm kiếm Việt Cộng. Và một trong những chìa khóa cho các hoạt động này là sự di động: Chúng tôi mang tất cả mọi thứ mình cần trên lưng.

Đầu năm 1967, tôi cảm tưởng rằng chiến tranh đang bước sang một giai đoạn nguy hiểm mới. Chúng tôi đã gặp những toán lính chiến Bắc Việt đi theo đường mòn Hồ Chí Minh bắt đầu từ giữa năm 1965, sau khi Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố ông không có kế hoạch xâm lăng miền Bắc. Vậy nên thách thức của đại đội lại càng nhân lên: Chúng tôi phải đối mặt với lính du kích Việt Cộng – những người là mối đe dọa đáng kể đối với thường dân – đồng thời phải sẵn sàng tham gia vào các trận đánh truyền thống với các đơn vị chính quy Bắc Việt. Mục tiêu của Hồ Chí Minh vẫn luôn là thống nhất đất nước, và ông cần binh lính chính quy của mình ở miền Nam chống lại các chiến thuật tấn công của Mỹ và lực lượng Việt Nam Cộng Hòa.

Leo thang chiến tranh đã trở nên rõ ràng vào giữa tháng 1, khi đại đội của tôi được giao nhiệm vụ nằm ngoài khu vực hoạt động bình thường của chúng tôi — đột kích vào một ngôi làng của kẻ thù và là an toàn khu nơi hơn 100 chỉ huy Việt Cộng dự dịnh sẽ nhóm họp. Vài ngày trước đó, một giao liên địch đã bị giết trong một cuộc phục kích; các tài liệu của anh ta cho thấy buổi họp sẽ được tổ chức vào trưa ngày 14/01 tại làng Ban Lãnh, thuộc tỉnh Quảng Nam. Khai thác tình báo một cách nhanh chóng và khả năng đưa lính vào địa bàn căn cứ của đối phương là hai nguyên tắc của các chiến dịch chống du kích. Để giết hoặc bắt giữ được nhiều du kích nhất, chiến dịch này sẽ phải làm cả hai điều đó.

Vì vậy, vào trưa ngày 14/01/1967, 176 thành viên của đại đội đã lên 12 trực thăng và bay đến khu vực được chỉ định. Khoảng 20 phút sau, chúng tôi đã lọt vào một “điểm nóng”. Toàn bộ trực thăng đều bị bắn khi chuẩn bị hạ cánh để thả chúng tôi xuống, và vẫn tiếp tục bị bắn cho đến khi chúng cất cánh trở lại.

Sau đó chúng tôi bắt đầu nhiệm vụ của mình, chiến đấu để tìm đường vào làng, trong khi máy bay Mỹ tiến hành không kích, xả súng và phun khói để kiềm chân kẻ thù. Đó là một ngôi làng đã được tăng cường; mỗi nhà đều có các vị trí chiến đấu và các hầm trú ẩn, và cả làng được bảo vệ bởi các lũy tre vốn làm hạn chế sự di chuyển của chúng tôi.

Ngay trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương chống Pháp (1946-1954) nơi này đã được coi là một thành trì của Cộng sản. Khi chúng tôi tấn công và bắt đầu có thương vong, thì chúng tôi nhận thấy rõ ràng là lực lượng địch lớn hơn nhiều so với dự đoán; chúng tôi cần nhanh chóng hoàn thành sứ mệnh rồi rút quân. Tôi vẫn nhớ rõ lúc nhìn về các ngọn núi ở phía tây nam — tôi biết rằng quân địch có lực lượng yểm trợ ẩn náu trên những ngọn núi đó, vì chúng nằm ngoài khu vực mà người Mỹ đã đánh dấu để bình định.

Toàn đại đội đều bị ấn tượng trước mức độ kỷ luật, quyết tâm và sự hung hãn của kẻ thù. Vài tuần sau, chúng tôi mới biết rằng khu vực này đã được bảo vệ không chỉ bởi Việt Cộng mà còn bởi các đơn vị lớn thuộc Quân đội Bắc Việt, khi họ thấy chỉ có 12 trực thăng thả quân xuống, họ đã bắt đầu tăng viện cho ngôi làng. Chính vào lúc ấy, chương trình huấn luyện thủy quân lục chiến và lập kế hoạch tiền chiến đấu của chúng tôi đã phát huy hiệu quả – khi các chỉ huy cấp thấp bị thương, các hạ sĩ và trung sĩ của họ đã tiếp quản mà không hề nao núng.

Chịu hỏa lực mạnh nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đến được điểm hẹn – đó là một ngôi chùa, vào khoảng 4 giờ chiều, nhưng lúc đó thì gần như tất cả các chỉ huy Việt Cộng đều đã sơ tán. Chẳng còn việc nào khác ngoài tập hợp lại để rút quân. Chúng tôi đã phải hứng chịu nhiều thương vong trên đường mòn và trong làng, và phải mất thời gian để gom đủ những người thương vong. Thậm chí đã có lúc, một người trong số chúng tôi đã phải bò dưới làn đạn của kẻ thù để cứu một người lính khác bị thương.

Cuối cùng, chúng tôi đã giết hơn 50 lính Bắc Việt và bắt giữ một cán bộ cấp cao. Khi gọi trực thăng đến đón 32 người lính bị thương và 5 người khác đã chết, chúng tôi cần các cuộc không kích để chặn kẻ địch và để bảo vệ máy bay trực thăng. Chúng tôi biết rằng mình không thể ở lại qua đêm vì chúng tôi thiếu đạn, và đang không ở trong khu vực mà chúng tôi có thể được các đơn vị thủy quân lục chiến khác tiếp viện.

Vào thời điểm đó trong cuộc chiến, chúng tôi vẫn tự tin rằng mình có thể đánh bại lính du kích và các đơn vị quân đội Bắc Việt. Nhưng rõ ràng là chính phủ miền Nam đã không làm đủ để loại bỏ các nguyên nhân gây ra nổi dậy, hoặc những điều kiện khiến nhiều người Việt Nam muốn sống dưới chế độ cộng sản.

Sau đó, khi tôi có một thời gian để nghĩ về chiến lược, một suy nghĩ khó chịu bất ngờ xuất hiện: Chúng ta có thể thắng trên chiến trường, nhưng liệu chừng đó có đủ để giành chiến thắng trong cuộc chiến?

Tôi tự hào được phục vụ trong lực lượng Thủy quân lục chiến tại Việt Nam, và tôi tin tưởng vào sứ mạng của mình. Sau này, tôi đã có một sự nghiệp 35 năm trong lĩnh vực tài chính, bao gồm các vị trí như Giám đốc Điều hành một công ty thuộc danh sách Fortune 500 và Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Giao dịch Chứng khoán New York... Nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy mình có nhiều trách nhiệm như khi là chỉ huy của 224 lính thủy quân lục chiến của Đại đội C, những người đã đặt niềm tin của họ vào khả năng lãnh đạo của tôi, và giao phó cho tôi sinh mạng của họ.

*

Marsh Carter tốt nghiệp trường West Point. Ông đã từng làm sĩ quan Thủy quân Lục chiến hai năm ở Việt Nam. Ông còn là cựu Giám đốc Điều hành State Street Bank and Trust và cựu Chủ tịch Tập đoàn Giao dịch Chứng khoán New York (New York Stock Exchange Group) từ năm 2005 đến năm 2013.

Nguồn:
Marsh Carter, “At Quang Nam, a Raid and a Reckoning”, The New York Times,
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 09 Feb 2018 lúc 6:35pm

NGƯỜI NGA NÓI THẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Đến bây giờ, người ta không còn giấu diếm sự tham gia của các quân nhân Liên Xô trong các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính vì vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đã sử dụng S-75.

Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lãnh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 Quân khu phòng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đã bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.

Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế của Liên Xô và Mỹ.

Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.

Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:

15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.

Thiệt hại trên thực tế chắc phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).

Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn phòng không S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.

Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.

Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).

Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.

Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.
Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch khác như vậy, rất khó xác định…

Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.

Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.

Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.

Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.

Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.

Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người Cộng sản Bắc Việt nam. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.

Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội !

Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.

Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.
Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.

Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.

Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn đối với Chính quyền Mỹ và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.

Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).

Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.

Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xã hội của nước mình chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).

Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ thì đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh phòng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).

Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác thì họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).

Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đã tiến hành các đợt đột kích sang lãnh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đã thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà Nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.

Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đã tấn công Nam Việt Nam.
Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển hình giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).

Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đã đạt những điều mình muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) , người Mỹ cũng đã đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đã chiến thắng để giữ thể diện.

Trong chiến dịch này Mỹ đã ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công trình. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Bắc Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-21 nhưng đã bắn hạ được 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.

Còn các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 đã bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa phòng không S-75). Có lẽ vì thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.

Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lý cực mạnh.

Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ.

Quân đội Nam Việt Nam về mặt hình thức đã là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu thì Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đã không còn ý nghĩa gì nữa.

Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đã được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài gòn có khi còn hiểu rõ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài Gòn hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ còn chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lý tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.

Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lãnh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).

Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài Gòn cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. Vì thế họ đã tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài Gòn), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.

Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài Gòn –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài Gòn. Cuộc “di tản” các lực lượng này đã nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.

Nắm được thời cơ, Hà Nội không còn một chút do dự gì nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này thì không ai và không cái gì có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài Gòn.

Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự thì cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).

Theo “Quốc phòng Việt Nam” - Lê Hùng (Lược dịch)


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 16 Feb 2018 lúc 7:58pm
TƯ TƯỞNG CỦA HIỀN NHÂN

Ngày nay người ta thường cho rằng người nào có nhiều tiền bạc của cải là người giàu có, người không có địa vị cao sang trong xã hội thì chính là người thấp hèn. Thậm chí họ thường dùng những tiêu chuẩn này để đánh giá người khác. Nhưng nhận thức về điều này của người xưa lại hoàn toàn khác biệt và vô cùng sáng suốt!

Người như thế nào là người bần cùng, thấp hèn? Trong cuốn “Vi lô dạ thoại” của tác giả Vương Vĩnh Bân đời nhà Thanh có viết: “Vô tài phi bần, vô học nãi vi bần; vô vị phi tiện, vô sỉ nãi vi tiện; vô niên phi yểu, vô thuật nãi vi yểu; vô tử phi cô, vô đức nãi vi cô”,

Tức là :”Không có tiền bạc thì không phải là nghèo, mà không có học mới là nghèo; không có địa vị không phải là thấp hèn, mà không có liêm sỉ mới là thấp hèn; không được sống lâu không phải là yểu mệnh, mà không có những việc đáng được kể lại mới là yểu mệnh; không có con không phải là cô độc, mà không có đức mới là cô độc.

Không có học mới là nghèo

Một người không có tiền tài của cải thì không tính là người nghèo, người không có học vấn mới thực sự là người nghèo. Đây cũng chính là cái mà người ta gọi là nghèo về tinh thần.

Kỳ thực một người sống vui vẻ, đầy đủ và có thoả mãn hay không là do tâm của mình quyết định. Nếu tâm không thoả mãn thì dù có giàu đến mức không ai bằng cũng sẽ luôn cảm thấy mình thiếu thứ này thứ kia, nghèo khó… Do đó có thể thấy, tiền tài của cải không đại biểu cho sự giàu nghèo của một người.

Học vấn là tài phú sáng tạo. Một người cho dù có cả núi vàng bạc cũng có thể ăn hết nhưng học vấn thì tồn tại mãi mãi. Cổ nhân giảng, một người tìm cầu của cải thì không bằng một người tìm cầu học vấn. Người không có học vấn, do bởi thiếu đi thế giới tâm linh, nội tâm trống rỗng, nên cho dù có cả một thế giới vật chất sung túc cũng luôn không cảm thấy thoả mãn.

Chữ  SĨ
 
Trong tiếng Hoa, chữ Sĩ có nghĩa là “người có học”. Chữ Sĩ được viết bằng hình tượng chữ Thập (số 10) nằm trên chữ Nhất (số 1) . Ai biết chơi cờ tướng đều nhận biết chữ Sĩ .
 
Người Hoa giải thích chữ Sĩ có nghĩa là 1 người có học bằng 10 người bình thường . Nhưng điều quan trọng là người có học cần phải luôn đặt bản thân mình ở dưới những người bình thường !

Không có liêm sỉ mới là thấp hèn

Một người không có địa vị không phải là thấp hèn mà không có sỉ mới là ti tiện thấp hèn. Bởi vì, địa vị xã hội của một người không hề đại biểu cho địa vị của người đó ở trong lòng người khác. Địa vị xã hội cao hay thấp cũng không phải tiêu chuẩn để đánh giá nhân phẩm của một người là cao hay thấp. Thậm chí, nếu địa vị được tạo ra không phải bằng khả năng thật sự thì cuối cùng cũng rơi vào cảnh bị “vạn dân thóa mạ”, bị xã hội vứt bỏ.

Ti tiện, hèn kém có nghĩa là không có giá trị. “Liêm” và “sỉ” là hai trong tám đức hạnh cao thượng nhất của con người, là một loại nhân cách, là sự tôn quý. Cổ nhân cho rằng hạng người không có liêm sỉ không những tâm địa hèn kém, mà ngay cả làm người cũng không xứng.

Trên thế gian có rất nhiều người tuy rằng có địa vị xã hội cao nhưng đối với một người dân bình thường thì họ lại không hề có giá trị gì, bởi vì họ không có liêm sỉ. Bởi vì họ không có liêm sỉ nên họ tham lam, thứ gì cũng lấy và không có đạo đức, việc gì cũng làm. Trái lại, có những người không hề có địa vị xã hội, nhưng lại luôn có những hành vi cao thượng và được lưu danh muôn đời.

Không có những việc đáng được kể lại mới là yểu mệnh

Giá trị của đời người không phải nằm ở chỗ sinh mệnh dài hay ngắn, cũng không phải ở chỗ đạt được nhiều hay ít mà là ở chỗ đã làm được điều gì có ích cho người khác, cho thiên hạ.

Sinh mệnh của con người không quan trọng ở chỗ thọ mệnh ngắn hay dài. Xưa kia Nhan Uyên tuy mất sớm, nhưng đến nay mọi người vẫn tôn là “Phục Thánh”. Vì thế những người như Nhan Uyên, có thể được coi là sống đến mấy ngàn năm.

Xưa nay, người sống lâu có rất nhiều, nhưng sống không có ích cho đời, khi chết đi người đời sau không ai nhắc đến cũng nhiều, thậm chí có người còn bị hậu nhân nguyền rủa như gian thần Tần Cối thì tuy sống cũng giống như là chết.

Khổng giáo đến nay vẫn còn lưu hành và có giá trị đối với xã hội. Tư Mã Thiên viết “Sử ký”, học giả xưa nay không ai là không lưu tâm, đó mới được gọi là “trường thọ”.

Không có đức mới là cô độc

Người có con mà không có đức thì cuối cùng con cũng bỏ mà đi. Trái lại, người có đức mà không có con thì tuy rằng người xa lạ không phải là con cũng yêu kính mà tìm đến. Cho nên nói, người không có con không phải là người cô độc, người không có đức mới là người cô độc.

Người không có đức cuối cùng cũng bị người đời xa lánh, xã hội coi thường, như vậy chẳng phải là người cô độc sao?

An Hòa dịch

*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2895
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 24 Feb 2018 lúc 7:44pm
LIÊM và SỈ


Cổ nhân giảng: Người không có “liêm” thì thứ gì cũng lấy, người không có “sỉ” thì việc gì cũng làm


Người xưa xem một người “hiền ngu” là dùng đức để đánh giá. Người có đức hạnh cao thượng thì được mọi người tín phục. Trong đó, “liêm” và “sỉ” là hai trong tám đức hạnh cao thượng nhất của con người.

Cổ ngữ có câu: “Dùng nhân dùng đức mà trị người thì là theo Đạo. Dùng Đạo mà cai trị đất nước thì quốc thái dân an, thiên hạ thái bình. Dùng quyền dùng lực mà trị người thì chính là ác bá. Dùng ác bá mà cai trị đất nước thì hậu họa khôn cùng, thế đạo tất sẽ loạn.”

Người xưa chia đức thành tám loại là hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, gọi chung là “Bát đức”. “Bát đức” này cũng được gọi là “Bát đán”, có nghĩa là một người mà thiếu tám đức này thì đó không phải là người nữa. Người mà mất đi tiêu chuẩn căn bản để làm người thì không thể được tính là người !

So với thời cổ xưa thì các giá trị đạo đức như liêm, sỉ gần như không còn được đề cao thậm chí đã bị mai một đi rất nhiều. Đạo đức trượt dốc, không coi trọng “bát đức” cũng được xem là nguyên nhân căn bản của hết thảy những vấn đề xấu xảy ra trong xã hội ngày nay…

“Liêm” và “sỉ” là đức hạnh mà con người cần tu dưỡng

“Liêm” (liêm khiết, trong sạch) là một trong những phẩm đức rất quan trọng của con người. “Liêm” vừa bao hàm ý nghĩa liêm khiết, trong sạch vừa bao hàm ý nghĩa tiết kiệm (thanh đạm).

Cổ nhân nói rằng: “Liêm là cái gốc của phú quý”. Không tham lam cũng được xem là “liêm”. “Liêm” thường được kết hợp với “thanh” (trong sạch) thành “thanh liêm”, không tham mà trở nên trong sạch. Nhưng suy xét sâu xa, thì “liêm” cũng được bắt nguồn từ “sỉ”, bởi người mà có “sỉ” (biết hổ thẹn) thì sẽ có “liêm” (không tham).

“Sỉ” chính là có tâm cảm thấy hổ thẹn. Khổng Tử giảng: “Hành kỷ hữu sỉ”, nghĩa là giữ mình, biết làm xằng làm bậy là xấu hổ.

Mạnh Tử giảng: “Nhân bất khả vô sỉ”, ý nói rằng làm người là không thể không có “sỉ”, không thể không biết xấu hổ.

Khổng Tử giảng: “Tri sỉ cận hồ dũng”, người biết xấu hổ thì cũng được xem là người gan dạ, dũng cảm. Một người biết hổ thẹn thì gặp tài vật mới không tham, lâm vào khó khăn mà không bị khuất phục. Người có “liêm” có “sỉ” mới biết khiêm tốn mà thoái nhường, lựa chọn lấy hay bỏ có mức độ phù hợp. Vô luận là tu dưỡng cá nhân hay là khí tiết của dân tộc thì “sỉ” đều là “người dẫn đường” của lương tri.

Một người biết hổ thẹn sẽ luôn biết chế ngự được hành vi của mình sao cho không vi phạm đạo đức. Cho nên, người biết sỉ cũng là người dũng cảm. Bởi vì biết xấu hổ nên họ luôn biết tự soi xét lại đức hạnh của mình. Người biết hổ thẹn mới có thể dũng cảm đối mặt với sai trái của mình, chiến thắng được bản thân mình, đây chính là thể hiện của “dũng”.

Mạnh Tử nói: “Vô tu ác chi tâm, phi nhân dã”, ý tứ là một người mà không biết hổ thẹn thì không thể được tính là người. Ông cho rằng, người biết xấu hổ thì mới có đạo đức tốt, không bị hấp dẫn bởi danh và lợi.

Chu Hi giảng: “Nhân hữu sỉ, tắc năng hữu sở bất vi”, ý nói rằng một người biết hổ thẹn thì sẽ không làm những việc không nên làm.

Người biết hổ thẹn mới có ý chí kiên định. Khi đứng trước được hay mất, nghĩa hay lợi, cộng đồng hay cá nhân…họ mới không bị dục vọng thao túng, thúc ép.

Học giả Lữ Khôn, triều Minh nói rằng: “Ngũ hình bất như nhất sỉ”, tức là làm cho người dân biết xấu hổ thì còn có tác dụng hơn là năm loại hình phạt nghiêm khắc (năm hình phạt thời cổ đại gồm khắc dấu chàm, cắt mũi, chặt chân, thiến, xử chết).

Ông cho rằng, việc giáo dục cho người dân hiểu về “liêm sỉ” còn quan trọng hơn là dùng trọng hình. Bởi vì khi đạo đức của con người được nâng cao, họ biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm rồi, biết rõ đúng sai rồi thì có thể không cần dùng đến hình phạt nữa.

Cũng bởi vì thế mà Nho gia đề cao việc giáo dục, xếp giáo dục đứng trước, hình phạt đứng sau.

An Hòa
*
 
Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 167168169

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.289 Giây.