Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Chi hội Kiev
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận RSS Feed: HẤP HÀO HOA
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

HẤP HÀO HOA

 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 168169170
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 23 Mar 2018 lúc 6:24pm
“LIFE AND TEACHINGS OF THE MASTERS OF THE EAST”
Tác giả : Spalding / Người dịch : Nguyên Phong
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 1 : LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoả mãn các nhu cầu vật chất vì chết là hết. Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Các đây không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng đế đã chết!” Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết, “Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường hay thượng đế cư ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự.
Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra : Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàny sĩ do bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ còn biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó.
Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh đã phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ rệt để giúp họ quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp nhận bất cứ một điều gì nếu không có sự giải thích rõ ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đa. Tất cả những điều gì xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lý đều bị loại bỏ.
Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều đổi khác. Giáo sư Spalding đã cho biết, “Phương Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây phương phải quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.” Điều đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Các khoa học gia bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều chứng kiến.

Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ sách, “Life and teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư luận hết sức sôi nổi. Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì được biết họ đã rời bỏ Âu châu để sống đời tu sĩ trong dãy tuyết sơn.

Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã tạo hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm chứng những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén lên tấm màn huyền bí của Đông phương và xác nhận giá trị cuộc nghiên cứu này.
Ấn độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.

Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng , phái đoàn vẫn không thoả mãn hay học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là hiền triết (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan)…
Ấn độ giáo (Hinduism) không có một chương trình đào tạo tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng dọc như các tôn giáo Âu châu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố tình giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều xảy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống, mới là đúng với giáo lý của Thượng đế.

Do đó, cuộc nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lõng, rồi rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học Hoàng Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng khoa học, hợp lý nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại vì văn hoá Ấn độ và Âu châu khác hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay không ? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng chịu đựng.

Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ý muốn, giáo sư Spalding một mình lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì phì. Tiếng kèn lên bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng ngã. Đám đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bả á phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các trò bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài tên “cò mồi” đứng trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng ném theo…

Đang mãi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn, phong độ khác thường chăm chú nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những trò bịp bợm này.

Người Ấn trả lời :
– Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm gặp họ phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi tiếng có đông giáo đồ vì họ biết thu tập đệ tử qua các hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương” trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm linh?”

Giáo sư Spalding ngạc nhiên :
– Tại sao ông biết rõ như thế?

Người Ấn mỉm cười :
– Các ông đã bàn cãi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu châu và kết luận rằng Á châu chả có điều gì đáng học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.

Giaó sư Spalding mất bình tĩnh :
– Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn có nhiều người chưa rõ kia mà ?

Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh :
– Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh, “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 31 Mar 2018 lúc 6:18pm
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 1 : LỜI NÓI ĐẦU (tiếp theo)
Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu trong Kinh thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như rung động bởi một luồng điện cao thế.

Ông lắp bắp:
– Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm ? Chúng tôi đã bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thi, làng mạc xứ Ấn…

Người Ấn nghiêm nghị trả lời :
– Hãy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người đã thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không thất vọng.

Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo sư Spalding :
– Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp các đấng chân sư (Rishi) thì các
ông còn mất nhiều thời gian nữa…

Giaó sư Spalding thắc mắc :
– Ông vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?

– Nếu ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, thì tôi xin tóm tắt : “Sự tiến hoá của linh hồn đi song đôi với thể xác. Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”

– Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ ?

Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu :
– Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà đức Jesus là một .

Giáo sư Spalding cãi :
– Nhưng chúa Jesus đã từng làm các phép lạ .

Người Ấn bật cười trả lời :
– Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục đích khoe khoang hay sao ? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.

Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng giáo chủ mà hầu như mọi người Tây phương đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
– Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng ?

Người Ấn nghiêm nghị :
– Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết mình là ai chăng ?
Nếu đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không ? Có lẽ các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì các ông mới tin sao ? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn ?

– Nhưng….nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì cho thế gian đâu ?

Người Ấn mỉm cười :
– Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các ngài một cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích gì cho nhân loại ? Nếu tôi quả quyết rằng đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân loại không ngừng thì ông có tin không ? Có lẽ ông sẽ đòi hỏi một bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể chứng minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả không dễ gì chúng ta hiểu thấu. Có lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại còn ấu trĩ nên các ngài đã xuất hiện để đặt một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại đã ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.

Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
– Lúc nãy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của ngài được không ?

– Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.

Nói xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ thành phố Benares.

*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 04 Apr 2018 lúc 6:27pm
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 2 : NGƯỜI ĐẠO SĨ THÀNH BENARES
Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Có những ngôi đền trông thì thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy gì ? Một số tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế du già (yoga) cực kỳ lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong bát nhỏ bầy trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một pháp môn tu hành chân chánh.
Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên bàn đinh, các đền thờ to lớn…, thì giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó. Như có một mãnh lực vô hình nào đó thúc đẩy, Spalding muốn vượt lên để nhìn cho rõ, ông bèn rẽ qua một lùm cây rậm rạp, để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ.

Vừa đi được vài bước, ông đã giựt mình vì gặp một con rắn hổ mang to lớn chận lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có hàng ngàn người bị rắn cắn chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan, chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới ngẩng cao cổ phun phì phì. Bất ngờ, vị đạo sĩ ở đâu đi đến, ông chẳng nói gì chỉ bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò vào trong bụi rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding.

Vị đạo sĩ mỉm cười thong thả tuyên bố :
– Cái phàm ngã hữu hình, hữu hoại không thể làm việc này mà đó là cái Chân Ngã thâm diệu, cái mà ta gọi là Thượng đế ngự trong tôi và muôn loài đã khiến con rắn bỏ đi, khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để cho cái Chân Ngã tự biểu lộ, và hành động thì không chuyện gì có thể xảy ra nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn tình thương và bác ái của Thượng đế cho nó xuyên qua mình và ban rải cho muôn loài, ta sẽ cảm hoá được các thú dữ. Khi ông vừa gặp con rắn, một tư tưởng sợ hãi phát ra, và tôi đã nhận được tư tưởng này; ngoài ra hình như ông có ý muốn gặp tôi ?

Giáo sư Spalding ấp úng :
– Chúng tôi đang suy tầm các hiện tượng huyền bí Á châu – thú thật là tôi đang cảm thấy hoang mang và thất vọng về những điều nhìn thấy ngoài chợ, nhưng khi vừa nhìn thấy ông, tôi linh cảm có một sự gì khác thường – – Hình như có một mãnh lực vô hình nào xui khiến.

Đạo sĩ chăm chú nhìn giáo sư rồi ra dấu cho ông này ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ gần đó.

Đạo sĩ lên tiếng :
– Sáng nay trong cơn thiền định, tôi nhận được một thông điệp về các ông, do đó tôi mới rời am thất đi dạo bên ngoài. Phải chăng các ông muốn tìm hiểu về phép tu Du Già (Yoga) ? Đáng lý không bao giờ tôi tiết lộ điều này , nhưng tôi đã nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông, vậy thì ông cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tuỳ theo sự hiểu của mình.

– Xin ông cho chúng tôi được biết về khoa Du Già (Yoga).

Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng :
– Không ai biết rõ pháp môn Du Già (Yoga) bắt đầu từ lúc nào trong lịch sử. Kinh sách Ấn độ giáo (Hinduism) nói rằng thần Shiva truyền dạy môn này cho hiền triết Gheranda. Nhà hiền triết dạy lại cho các đệ tử của ông, nhưng chỉ có Marteyanda là lãnh hội được các tinh tuý và phổ biến trong giới trí thức thời đó.

Du Già (Yoga) là một khoa học bao gồm nhiều thứ từ : thiên văn, địa lý, triết học, toán học, v..v.. Pháp môn tôi được truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ Yoga. Theo lời sư phụ tôi thì trong thời cực thịnh, Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn giới hiền triết, trí thức rất đông.

Theo thời gian, thời hoàng kim đã qua, nhân loại đã sa vào hố thẳm của sa đoạ vật chất, bị lôi cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm linh này, các hiền triết đã hội thảo để tìm một giải pháp. Sau cùng họ đi đến kết luận là cho phép truyền dạy một phần của môn Yoga cho quần chúng, nhằm đem lại một giải pháp cho giai đoạn lúc đó.

Phần được truyền dạy này trích ở chương Yuj (cái ách) gồm các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn thể xác trong một kỷ luật khắc khe để đạt mục đích tập trung Tâm và Thân làm một với bản thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi và tồn tại đến ngày nay. Vì trích ở chương Yuj, nên nó được gọi là Yoga.

Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ của môn Yoga nguyên thuỷ, vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất ít người hiểu rõ một cách đứng đắn. Đa số đã hiểu sai nên mới có các lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ, các tư thế lố bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời cho đến khi nó khô liệt. Sự luyện tập như thế không có ích gì mà cũng chả mang lại một kết quả gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự một môn khoa học như Yoga. Đối với đa số, Yoga đã bị hạ thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khoẻ mạnh cường tráng.

Tuy thế, nếu luyện thế đúng cách nó vẫn mang lại nhiều kết quả tốt cho thể xác. Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác, họ biết rằng luyện tập môn này sẽ giúp họ khám phá các năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép thần thông biến hoá… Để luyện ý chí, họ tập trung năng lực vào các việc như hành xác, bắt nó chịu các thử thách cực độ như phơi nắng, dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v..v… Để chứng minh quyền năng ý chí, họ đem trò này ra biễu diễn cho quần chúng để tìm cách vừa kiếm tiền, vừa hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ khạo.

Mục đích của Yoga đâu phải làm trò lạ mắt cho người đời kính phục !

(còn nữa)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 11 Apr 2018 lúc 7:21pm

NHỮNG VÒNG TRÒN BÍ ẨN TRÊN CÁNH ĐỒNG


Các vòng tròn khổng lồ với nhiều hình thù khác nhau bắt đầu xuất hiện trên các cánh đồng ở Anh và vẫn là bí ẩn lớn của nhân loại hiện nay.

Những vòng tròn bí ẩn – Tuyệt tác của "người ngoài hành tinh"

Crop circle – Những vòng tròn trên cánh đồng – là thuật ngữ dùng để chỉ những họa tiết, có kích thước khổng lồ, có thể lên đến hàng trăm mét, được tạo trên những cánh đồng do thân cây bị đổ rạp xuống, tạo ra màu sắc tương phản theo những đường nét nhất định.
 
Phần lớn các vòng tròn kỳ lạ này tập trung ở phía Nam nước Anh, đặc biệt là vùng Hampshire và Wiltshire. Cũng có nhiều vòng tròn được ghi nhận gần Avebury và Stonehenge, hai địa điểm nổi tiếng với nhiều công trình làm bằng đá bí ẩn.
 
Nhưng crop circle không chỉ được tìm thấy ở Anh, mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong lục địa châu Âu và cả ở bên ngoài như Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ….
 
Crop circle thường được tạo hình rất chính xác, và cân đối, trông như thể chúng là một sản phẩm của máy móc. Các thân cây bị đè xuống và bẻ cong nhưng không hề bị chết, và thường nằm theo luồng xoáy cùng chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại.
 
Các vòng tròn bí ẩn đã từng được ghi nhận trong sử sách từ thế kỷ 14. Trong các thế kỷ sau đó, sự xuất hiện của crop circle cũng được báo cáo rải rác tại nhiều khu vực khác nhau.
 
Nhưng phải đến những năm 1980, crop circle mới bắt đầu thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi sự xuất hiện của một vòng tròn được báo chí đưa tin rầm rộ.
 
Đến những năm 1990, các crop circle xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành một hiện tượng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như khách du lịch.
 
Các địa điểm crop circle xuất hiện đã trở thành nơi thu hút rất đông khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đến tham quan và tìm hiểu.
 
Ban đầu, các crop circle được phát hiện chỉ có dạng vòng tròn khá đơn giản. Nhưng càng về sau chúng càng trở nên phức tạp hơn.
 
Ngoài các hình tròn đơn lẻ hoặc sự liên kết của các vòng tròn, crop circle còn xuất hiện dưới rất nhiều hình dạng khác nhau, nhiều khi là rất phức tạp.
 
Chúng có thể còn có cấu trúc như mê cung, hình dạng của các loài côn trùng, họa tiết của các nền văn minh cổ hoặc những loại chữ viết mà con người chưa từng biết đến !
 
Nhiều crop circle có kết cấu tuân thủ các nguyên tắc toán học chặt chẽ. Nhà thiên văn học, giáo sư người Mỹ nổi tiếng Gerald S.Hawkins nhận xét rằng những “người” tạo ra crop cirle có một kiến thức sâu rộng về hình học phẳng Euclid.
 
Các vòng tròn bí ẩn này thường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, trùng với các vụ thu hoạch, khi các cây ngũ cốc đã cao lớn .
 
Chúng có thể xuất hiện trên mọi loại cây trồng như lúa mỳ, lúa gạo, ngô, đậu, yến mạch, thuốc lá hay cỏ dại và được tạo hình hoàn chỉnh chỉ sau 1 đêm, nằm ngoài mọi sự quan sát của con người !
 
Đặc biệt, với những kỹ thuật tân tiến nhất hiện nay, con người vẫn không thể tạo ra những hình dạng to lớn, đẹp đẽ, cân đối chuẩn mực đến từng chi tiết như vậy chỉ trong vài tiếng đồng hồ mà không gây ra tiếng động ồn ào để không ai biết ! Hơn nữa, không hề để lại các vết tích của sự vận chuyển các máy móc thiết bị, và nhất là vẫn duy trì lâu dài được sự sống của những cây ngã đổ rạp hẳn xuống mặt đất…
 
Một sự thật vô cùng quan trọng là muốn nhìn toàn cảnh của các vòng tròn bí ẩn ấy thì người tạo ra chúng phải ở độ cao lơ lửng cách mặt đất khoảng 100 mét . Và muốn thưởng thức vẻ đẹp của chúng thì người ta cũng phải ở độ cao như vậy, nếu chỉ đứng trên mặt đất, chẳng ai cảm nhận được toàn cảnh hình vẽ ra sao !
 
Tác giả của những vòng tròn bí ẩn này là ai ? Đây là đề tài gây ra nhiều tranh cãi trong các thập niên qua…
 
Những người không tin vào các hiện tượng huyền bí thì cho rằng đây chỉ là một sản phẩm do con người tạo ra để thu hút sự chú ý của mọi người.
 
Trên thực tế, đã có nhiều người tự nhận mình là tác giả của crop circle và nhiều vòng tròn “nhân tạo” như vậy được thực hiện bằng các biện pháp cơ học trước sự quan sát của truyền thông.
 
Nhưng các vòng tròn “giả mạo” đó luôn để lại những dấu vết từ sự tác động dày xéo của máy móc và của con người. Trong khi phần lớn vòng tròn “thật” được nhà khoa học khảo sát hoàn toàn không có dấu vết phá hoại, hay bị dày xéo của máy móc và con người. Dường như chúng bị tác động từ một năng lượng vô hình cực mạnh.
 
Bản thân những người tuyên bố mình đã tạo ra crop circle “thật” cũng không thể giải thích được cách mình tạo ra những họa tiết có hình thù rất phức tạp ấy như thế nào ? Điều này đã gây nên những đồn đoán về sự giả mạo tự nhận họ là tác giả của các crop circle đó.
 
Giả thiết được nhiều người biết đến nhất có lẽ là người ngoài hành tinh hay một nền văn minh bí mật có trình độ phát triển cao hơn con người đã tạo ra những họa tiết trên cánh đồng như một thông điệp của họ gửi đến loài người.
 
Một số nhà khoa học thì cho rằng crop circle là hệ quả của các cơn gió xoáy, vốn phổ biến ở khu vực miền Nam nước Anh. Nhưng giả thiết này không mấy thuyết phục vì gió xoáy không thể tạo nên những cầu trúc hình học hoàn hảo đến như vậy . Quá khó tin !
 
Các ý kiến khác cho rằng crop circle được tạo ra bởi năng lượng có dạng bức xạ điện từ xuất phát từ trong lòng Trái Đất. Thực tế, các nhà khoa học đã đo được lượng từ trường khá mạnh bên trong vòng tròn. Nhưng khó có thể tin rằng năng lượng thiên nhiên lại có trí tưởng tượng để tạo ra những họa tiết khéo léo như hình con bướm, hoặc phức tạp hơn…
 
Nhà nghiên cứu người Mỹ William Levengood đã phát hiện ra các loại cây trồng ở những nơi xuất hiện cropcircle bị tổn hại y hệt cách mà chúng được đặt vào trong lò vi sóng. Dường như chúng đã đổ gập xuống do bị làm nóng đột ngột từ bên trong giống như năng lượng ở lò vi song (viba).
 
Vào năm 2001, hai nông dân người Hà Lan khẳng định mình đã nhìn thấy những “cột” ánh sáng trắng chiếu vào cánh đồng trồng đậu của họ. Sau đó, một crop circle đã xuất hiện nơi ánh sáng rọi vào.
 
Tóm lại, sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, hiện tượng “vòng tròn trên cánh đồng” vẫn là một ẩn số đối với nhân loại. Hi vọng rằng lời giải đáp xác đáng về hiện tượng này sẽ được tìm thấy trong một tương lai không xa.
 
Theo Gioitre.net


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 18 Apr 2018 lúc 7:37pm
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 2 : NGƯỜI ĐẠO SĨ THÀNH BENARES (tiếp theo)
Giaó sư Spalding ngắt lời :
– Nhưng ta có nên trách họ không ? Nếu các đạo sĩ chân tu dấu kín các phép tu chân truyền thì sự hiểu lầm làm sao tránh khỏi.

Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích :
– Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà, châu báu cho mọi người coi chơi. Ông ta cất dấu cẩn thận có phải thế chăng? Pháp môn Yoga còn gì quý bằng nên người tu chân chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào thành tâm muốn học hỏi phải ra công tìm kiếm và đó là phương pháp duy nhất. Một danh sư không cần quảng cáo rầm rộ vì không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông tuyển chọn đệ tử gắt gao và chỉ truyền dạy các giáo lý bí truyền khi người đệ tử tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí mật vì cách luyện tập rất nguy hiểm đối với người non kém, chưa đủ khả năng. Khai mở các bí huyệt đâu phải trò chơi tầm thường .

Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện theo môn Hatha Yoga, nhắm việc chủ trị xác thân trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện tập bắp thịt và bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi vào thần kinh, não tuỷ. Nếu tập đúng cách, sức khoẻ sẽ tăng cường, sống lâu và có ý chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai đoạn nhập môn, nó đòi hỏi ít nhất từ một đến bốn năm mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng mãnh mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.

Giáo sư Spalding gật gù :
– Như thế môn này khác phương pháp thể dục của người Âu Mỹ thế nào ? Chúng tôi cũng có các cách khiến thân thể khoẻ mạnh.

Đạo sĩ bật cười lớn :
– Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ da, bắp thịt, làm sao so với lối luyện tập của người Á châu, vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên ngoài. Trước hết có bốn cách thức căn bản : Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh, cân não. Tĩnh toạ để tập trung ý chí. Điều tức để tẩy uế thân thể, khu trục các chất cặn bã, và Khí công để kiểm soát hơi thở. Hãy lấy một thí dụ giản dị như việc nghỉ ngơi, hãy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay rình bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh lực không hao phí chút nào. Mọi cử động tư thế là cả một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải mái tối đa. Người Âu các ông tưởng mình biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông không biết gì cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay bên này, ngả bên nọ. Khi thì tréo chân, lúc lại dang tay, coi thì thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động liên miên từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động ầm thầm chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài vật biết cách dưõng sức bởi vì chúng có bản năng dìu dắt mà bản năng là tiếng nói của tự nhiên. Loài người được hướng dẫn bằng lý trí, nhưng thay vì làm chủ lý trí, họ đã không kiểm soát được bộ óc của họ, nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể đều bị ảnh hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không có.

Giáo sư Spalding thở dài thú nhận :
– Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng liệu ông có thể nói rõ hơn về khái niệm sơ đẳng môn Hatha Yoga không ?

– Tôi chỉ có thể nói một vài tư thế giúp con người tăng cường sức khoẻ thôi. Có hai mươi tư thế (Asana), mà ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh lực. Các tư thế này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động lên các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh mẽ hơn. Khoa học Tây phương đã chứng minh rằng ngoài các mạch máu chính, thân thể con người còn có hàng triệu các vi ti mạch chạy khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động hay suy yếu, thì số lượng các vi ti mạch (capillaries) cũng giảm bớt đi. Tập thể thao hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ này gia tăng hoạt động, khiến cơ quan phục hồi. Cũng như thế, tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng hoả hầu (Prana) lưu chuyển, kích động các cơ quan từ trong khiến nó hoạt động, nhưng tập Yoga làm nó hoạt động đúng với hiệu năng sẵn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả thần diệu hơn. Con người không có lo gì bệnh tật nữa, nếu có bệnh cũng sẽ khỏi hoàn toàn.

Giáo sư Spalding lắc đầu :
– Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận việc tập Yoga chữa được hết bệnh tật.

Đạo sĩ mỉm cười :
– Một thân thể khoẻ mạnh, cường tráng làm sao có thể bị bệnh được ? Bệnh tật là do sự mất quân bình trong cơ thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt động chứ đâu biết nghỉ ngơi, thế đã là lý do gây nên các bệnh thần kinh rồi.

– Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện ra sao ?

Đạo sĩ thong thả giải thích :
– Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên ghế, nhất là các ghế bành êm ái rất có hại cho xương sống, con đường vận hà chính của luồng hoả hầu (Prana), và là nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, bại xuội, phong thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới đất, không dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào, giữ cơ thể thật thăng bằng, xương sống phải thật thẳng và thở nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài phút nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là vì bộ óc quen hoạt động, quen náo nhiệt. Hãy giữ cho lòng yên tĩnh, vắng lặng không bận rộn vào mọi chuyện vớ vẩn. Lúc đầu chưa quen chủ trị tư tưởng thì hãy nghĩ đến một cái gì đẹp đẽ, mỹ lệ như bông hoa, giòng suối. Đó là bước đầu cho việc nghĩ ngơi.

Giáo sư Spalding buột miệng :
– Như thế đâu có gì khó khăn lắm.

Đạo sĩ bật cười :
– Nghỉ ngơi cần gì phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ được xương sống thẳng và thở hít đều đặn, thì luồng chân khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm ngửa trên mặt đất, chân duỗi thẳng, đưa hai ngón chân cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân mình, mắt nhắm lại để sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ không phải trên giường, nhất là giường nệm, vì giường mềm mại khiến thân thể lệch lạc không đều. Hãy nằm cho thoải mái, không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi, chớ suy nghĩ hay mong mỏi điều gì. Tư thế này sẽ xoa dịu bộ thàn kinh khiến nó lấy lại trạng thái quân bình. Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên sự nghỉ ngơi, dưỡng sức chứ không phải hành xác với các tư thế vặn vẹo kỳ cục.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2903
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Apr 2018 lúc 7:32pm
THÓI QUEN


Dành 20 phút mỗi sáng cho thói quen đơn giản này, tôi đã bình tĩnh điều hành công việc và có cuộc sống tốt hơn suốt 6 năm qua

Trong cuốn sách “Thói quen buổi sáng: Người thành công bắt đầu mỗi ngày như thế nào?”, cựu tư vấn nghề nghiệp của Google, chiến lược gia Jenny Blake đã tiết lộ về thói quen nhất định cô phải làm sau khi thức giấc trong sáu năm qua.

Jenny Blake là cựu tư vấn nghề nghiệp (career coach) của “ông trùm” Google, chiến lược gia nghề nghiệp, diễn giả và tác giả của nhiều cuốn sách truyền cảm hứng cho các doanh nhân, lãnh đạo về lối sống lành mạnh, hữu ích trong công việc.

Bất kể bận rộn như thế nào, Jenny Blake luôn có quy tắc đảm bảo giấc ngủ cho bản thân, khoảng 7 – 9 giờ mỗi ngày. Cựu HLV Google thường thức dậy vào lúc 6 giờ sáng. Nếu buổi tối đi ngủ muộn hơn, cô sẽ tỉnh giấc vào khoảng 8 giờ sáng ngày hôm sau. Đặc biệt, Jenny Blake có thói quen đọc sách ngay khi thức giấc để làm tỉnh táo tinh thần.

Sau khi rời giường, cô sẽ bắt đầu ngồi thiền khoảng 20 – 45 phút. Thiền định đã trở thành thói quen không thể thiếu vào mỗi buổi sáng của vị chiến lược gia người Mỹ, giúp cơ thể hít thở không khí trong lành, kích thích sản sinh endorphins, cải thiện tâm trạng cho một ngày làm việc.
Tôi đã bắt đầu thói quen thiền định này sau khi rời khỏi Google để khởi nghiệp riêng. Tôi hiểu bản thân muốn gì và cần làm gì để tạo “nhiên liệu” kích thích cơ thể làm việc hiệu quả”, Jenny Blake chia sẻ.
Giống như nhiều người thành công khác, bao gồm tỉ phú Jeff Bezos giàu có nhất thế giới – người sáng lập Amazon và “bà hoàng ngành truyền thôngAriana Huffington, Jenny Blake không sử dụng đến đồng hồ báo thức trừ khi cô ấy có chuyến bay đột xuất vào sáng sớm. Một nguyên tắc nữa của Jenny Blake là không lên lịch cuộc họp hay điện thoại cho đến 10 giờ sáng, cũng giống tỷ phú Jeff Bezos.

Mỗi thói quen trong từng giai đoạn của buổi sáng đều đóng góp vai trò quan trọng dẫn đến sự thành công của một doanh nhân, thiền định là bước quan trọng nhất có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của cựu HLV Google Jenny Blake.

“Tôi tôn trọng nhu cầu nghỉ ngơi của cơ thể. Nói không với việc trả lời email ngay sau khi thức dậy, giống như cách nhiều người thường làm. Thay vào đó, tôi sẽ ngồi thiền. Những bài thiền đơn giản cũng giúp tôi tránh được cảm giác ép buộc bản thân phải rời khỏi giường để làm việc. Tôi không phải đối mặt ngay với những vấn đề căng thẳng, tức giận. Nếu bạn không tình nguyện rời giường, bạn sẽ không có tinh thần vui vẻ để bắt đầu làm việc cả ngày”.
Thiền định là điều tốt nhất tôi có thể làm để cảm thấy bình tĩnh, cải thiện khả năng đưa ra các chiến lược và ý tưởng sáng tạo mới phục vụ cho công việc”. Jenny Blake cho biết, thời gian đầu cô chỉ dành 10 phút ngồi thiền mỗi buổi sáng sau khi thức giấc. Tuy nhiên, Jenny Blake đã nhanh chóng tăng lên 20 – 45 phút mỗi ngày khi nhận ra hiệu quả mà thiền định đem lại. “Nó làm cho những suy nghĩ trong tâm trí của tôi được thông suốt nhanh hơn nhiều so với việc tôi phải cố gắng hết sức giải quyết trong ngày”.
Ngoài ra, chiến lược gia Jenny Blake cũng đưa ra lời khuyên cần ưu tiên nghỉ ngơi đủ giấc vào ban đêm. Việc thiếu ngủ ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất, hiệu quả công việc và sức khỏe tổng thể. Thành công sẽ không thể đến với một cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, thiếu ngủ và thiếu tập trung. “Cơ thể chính là doanh nghiệp mà tất cả chúng ta cần phải đầu tư, bảo vệ. Coi trọng cơ thể cũng chính là coi trọng sức khỏe, mạng sống và sự nghiệp của mình“, đây là phương châm sống đã giúp Jenny Blake có sự nghiệp thành công và cuộc sống khỏe mạnh.

Sưu tầm



Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 168169170

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.262 Giây.