Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Chi hội Kiev
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận RSS Feed: HẤP HÀO HOA
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

HẤP HÀO HOA

 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 170171172
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Jun 2018 lúc 6:03am
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 3 : KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ KHOA HỌC CHIÊM TINH (tiếp theo)

Giáo sư lên tiếng :
– Nhưng tại sao các tinh tú ở xa lại ảnh hưởng đến từng cá nhân được ?
Babu thong thả trả lời :

– Nếu tinh tú ở xa quá thì khoa học thực nghiệm giải thích thế nào về ảnh hưởng của mặt trăng đối với nước thuỷ triều lên xuống hoặc chu kỳ trong thân thể đàn bà ?

– Nhưng nếu tôi bị tai nạn thì điều đó ăn nhập gì đến các hành tinh.
Babu lắc đầu mỉm cười :

– Các ông nên nghĩ thế này, tinh tú chỉ là biểu tượng mà thôi. Tự nó không ăn nhập gì đến chúng ta hết, mà chính cái dĩ vãng của ta đã ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại cái ảnh hưởng này mà thôi. Không ai có thể hiểu khoa chiêm tinh nếu họ không tin luật Luân Hồi (Reincarnation). Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Định mệnh của y theo dõi và ảnh hưởng lên đời sống của y theo luật Nhân Qủa (Karma – cause and effect). Nếu ta không tin con người chết đi và đầu thai lại để học hỏi, để tiến hoá, để trở nên một người toàn thiện, thì mọi sự đều là ngẫu nhiên hay sao ?

Một thượng đế công bình, bác ái có lẽ nào dung túng điều này ? Khi qua đời thể xác hư thối tan rã nhưng tính tình, dục vọng, ý chí vẫn còn nguyên cho đến khi ta đầu thai vào một kiếp sống mới thì những tính này sẽ trở nên cá tính (personality) của kiếp sau. Các hành tinh chỉ là tấm gương ghi nhận các nguyên nhân này và phản chiếu trở lại.

Bất cứ một hành động nào cũng tạo nên một nguyên nhân dù xấu hay tốt, ví như ta ném một trái bóng lên không trung. Trước sau gì nó cũng rơi xuống vì trọng lượng và ảnh hưởng của sức hút trái đất, nhưng đến khi nào nó rơi xuống còn tuỳ sức ném của ta nặng nhẹ ra sao. Khoa chiêm tinh nghiên cứu các vũ trụ tuyến này để đoán được khi nào cái nguyên nhân trước sẽ trở lại.

Babu im lặng một lúc và thong thả giải thích thêm:
-Trước khi đi xa hơn, tôi muốn các ông hiểu lịch sử chiêm tinh để có một cái nhìn thật đúng đắn. Từ ngàn xưa, chiêm tinh học vẫn được coi là một khoa học quan trọng. Chiêm tinh gia chỉ đứng ở địa vị thứ hai, sau Giáo sĩ mà thôi. Đối tượng của khoa chiêm tinh là vũ trụ. Tiếc thay phần này đã bị thất truyền, chỉ còn phần nhỏ nói về sự liên hệ giữa con người và các bầu tinh tú, còn được lưu truyền đến nay và được xem là khoa bói toán.

Khoa chiêm tinh có từ lúc nào không ai biết, nhưng hiền triết Bhrigu đã truyền dạy các môn đồ của ông vào khoảng 6000 năm trước. Nòng cốt của nó nằm trong bộ sách Brahma Chinta, do ông soạn ra. Bhrigu có bốn đệ tử. Người thứ nhất rất giỏi về khoa học đã đi sang Ba Tư (Iran) lập nghiệp, từ đó ngành chiêm tinh đi về hướng Tây và ảnh hưởng đến Hy Lạp và La Mã sau này. Người thứ hai rất giỏi về triết học đi về phương Đông, sang Trung Hoa truyền bá ngành này ở đây. Người thứ ba thích nghiên cứu những hiện tượng siêu hình đã lên Tuyết Sơn nhập thất và sau truyền môn này cho dân chúng Tây Tạng. Người thứ tư ở lại xứ Ấn, và làm đến chức quốc sư. Bộ sách Brahma Chinta được coi là quốc bảo cất trong cung điện.

Sau này, các hoàng tử tranh cướp ngôi vua đã giành nhau bộ sách quý. Sau mấy chục năm chinh chiến, bộ sách được phân chia làm nhiều phần, mỗi ông Hoàng giữ một mảnh, và tứ đó khoa chiêm tinh trở nên thất truyền – – Các mảnh vụn này đã được các thầy bói sưu tầm, ghi chép lại để kiếm ăn , nhưng họ chỉ nắm một vài then chốt chứ không sao hiểu hết.

Như các ông thấy, căn nhà này rất lớn, gồm có 49 phòng, mỗi phòng đều chứa đầy các sách vở do tôi sưu tầm. Tất cả gia tài sự nghiệp của tôi đều được sử dụng để sưu tầm các sách cổ…Tôi xuất thân từ một gia đình hoàng tộc nhưng tôi chỉ ham mê khoa chiêm tinh. Tôi bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu, theo học các vị chiêm tinh gia nổi tiếng cho đến khi sưu tầm được bộ Brahma Chinta. Dĩ nhiên, bộ sách này nguyên bản mấy ngàn trang nhưng tôi chỉ sưu tầm được có vài trăm trang và tốn gần 20 năm nghiên cứu nó.

Babu mỉm cười nhìn giáo sư Oliver :
– Bạn Oliver thân mến, lá số tôi lấy cho ông rất khác thường so với người Âu. Tin hay không tuỳ ý bạn, đúng hay sai, chỉ bạn biết, nhưng tôi muốn nói thêm rằng các nghiệp quả đã trả xong. Đời bạn đã bước vào một khúc quanh quan trọng. Lá số cho thấy bạn đã đến bên thềm Đạo và sẽ được một sự dìu dắt của một hiền giả.

Giáo sư Oliver cảm động xiết chặt đôi tay gầy guộc của nhà chiêm tinh. Toàn thể phái đoàn cũng xúc động không kém. Khi trưóc họ đã nghi ngờ khoa bói toán, nhưng sự kiện vừa xảy ra đã thay đổi tất cả. Không ai ngờ giáo sư Oliver lại có một đời sống cá nhân bất hạnh như thế.

Babu đưa toàn thể phái đoàn đi xem những căn phòng chứa sách với những tủ lớn chứa đựng hàng ngàn cuốn sách cổ. Giáo sư Mortimer, một nhà khảo cổ học của trường Harvard đã phải kinh ngạc trước kho tàng sách vở vô giá này. Có những bộ sách viết trên lá buôn (payrus) cả ngàn năm trước, xen lẫn các tài liệu khắc trên gỗ vào thế kỷ thứ 6. Toàn thể phái đoàn có cảm tưởng như phần lớn kho Minh Triết xứ Ấn đều tập trung nơi đây.

Giáo sư Mortimer lên tiếng :
– Những sách vở này nói về những gì vậy ?

– Đó là những sách về vấn đề Tôn Giaó, Minh Triết Cổ Truyền, Triết Học Ấn độ.

– Như thế ông cũng là một triết gia ?

Babu mỉm cười :
– Một người không hiểu về triết lý sẽ chỉ là một hạng chiêm tinh tồi hay thầy bói hạ cấp.

– Ông có thu nhận đệ tử không ?

– Có rất nhiều người đến xin tôi dạy dỗ nhưng tôi từ chối vì thấy họ không đủ thiên tư để lĩnh hội hay không đủ ý chí để đi đến cùng. Tôi nghĩ mình chưa đủ sức làm thầy ai hết mà chỉ là một người ham mê nghiên cứu, cũng như các ông là những khoa học gia say mê kiến thức khoa học.

– Nhưng ông cũng dùng chiêm tinh để hướng dẫn đời mình chứ ? Ông có thể xem được quá khứ vị lại kia mà.

Babu lắc đầu :
– Không đâu, tôi đã tìm thấy ánh sáng Chân Lý, và không cần đến khoa chiêm tinh nữa. Khoa học này chỉ hữu ích cho những kẻ còn lần mò trong bóng tối. Tôi đã hoàn toàn trao trọn đời mình vào tay Thượng đế (brahman). Không còn lo nghĩ, ưu phiền gì về tương lai nữa. Bất cứ điều gì xảy ra tôi cũng chấp nhận như ý muốn của Ngài.

– Nếu ông bị kẻ hung dữ hãm hại làm lâm nguy tính mạng thì ông có cho đó là thiên ý không ? Ông sẽ làm gì để tự vệ chứ ?

– Tôi biết rằng trong khi nguy cấp chỉ cần cầu nguyện là đủ. Cầu nguyện là cần thiết vì lo âu chẳng ích gì. Nhiều khi tôi gặp khó khăn, lúc đó tôi ý thực sự giúp đỡ của Thượng đế hơn bao giờ hết. Các bạn có biết rằng tôi đã xé bỏ lá số tử vi của mình từ khi tìm thấy ánh sáng Chân Lý. Tôi tin chắc rằng con người có thể cải tạo tinh thần để hoà hợp với Thượng đế, còn các việc xảy ra do hậu quả của quá khứ, ta không thể thoát được thì lo lắng có ích gì ?

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 24 Jun 2018 lúc 6:14am

NGƯỜI PHỤ NỮ DI CHUYỂN ĐỒ VẬT BẰNG TƯ TƯỞNG

Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều người đã tuyên bố sở hữu những sức mạnh tâm linh siêu thường. Rất nhiều người đã bị lật tẩy là gian lận, nhưng vẫn còn tồn tại một số trường hợp chưa thể giải thích. Một trong những trường hợp nổi tiếng nhất là Nina Kulagina, người phụ nữ có thể di chuyển đồ vật bằng tư tưởng.

Sinh năm 1926 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg) dưới cái tên Ninel Sergeyevna Kulagina, bà gia nhập Hồng quân Liên Xô khi lên 14 tuổi. Kulagina phục vụ như là một trung sĩ phụ trách phát thanh cho xe tăng cho đến khi bà bị thương tật trong giai đoạn cuối của Thế chiến I.

Sau chiến tranh, bà lập gia đình và hầu như không được ai biết đến cho tới giữa những năm 1960, khi các năng lực siêu thường của bà trở thành một hiện tượng gây xôn xao ở Liên Xô. Cho đến khi bà qua đời vào năm 1990, Kulagina đã được biết đến rộng rãi là một người sở hữu hàng loạt sức mạnh tâm linh bí ẩn.

Trong cuộc phỏng vấn, Kulagina nói rằng bà nhận ra mình có các khả năng này vì mỗi khi bà nổi giận, các đồ vật trong gia đình sẽ tự động di chuyển. Mẹ của bà cũng có những trải nghiệm tương tự, điều đó khiến Nina tin rằng khả năng này có thể truyền từ mẹ sang con.

Kulagina tuyên bố rằng, để khả năng dịch chuyển đồ vật này phát huy tác dụng, bà cần một khoảng thời gian thiền định để thanh lọc tư tưởng bản thân. Đến lúc cảm thấy một cơn đau nhói ở xương sống và tầm nhìn mờ đi, bà biết rằng mình đã sẵn sàng.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, một số thước phim đen trắng không tiếng xuất hiện, và chúng cho thấy Nina đang di chuyển đồ vật trên một cái bàn. Bố cục hoàn cảnh trong thước phim cho thấy các thí nghiệm dịch chuyển đồ vật đã được thực hiện dưới điều kiện giám sát chặt chẽ của chính quyền Xô Viết. Trong quá trình này, có đến 40 nhà khoa học, bao gồm hai người đoạt giải Nobel, có mặt để kiểm chứng người phụ nữ này và họ cho rằng sức mạnh tâm linh của bà là chân thực.

Một thước phim cho thấy cảnh các nhà nghiên cứu đập vỡ một quả trứng trong một bể chứa đầy nước. Kulagina đã có thể tách riêng lòng đỏ và lòng trắng trứng, sau đó di chuyển chúng sang hai phía đối diện của bể. Các cảm biến được gắn trên cơ thể cho thấy bà đã nâng mức nhiệt độ cơ thể và nhịp tim, cũng như cường độ sóng não và trường điện từ của mình.

Thí nghiệm nổi tiếng nhất của bà được thực hiện vào những năm 1970, khi các nhà khoa học muốn thử xem liệu Kulagina có thể tác động đến các vật thể sống hay không, ví như các tế bào sống, mô và cơ quan nội tạng. Quả tim của một con ếch được đặt trong dung dịch muối và vẫn còn đập nhờ sự trợ giúp của hai điện cực cung cấp một dòng điện yếu. Các nhà khoa học có mặt trong suốt quá trình thí nghiệm nói rằng đầu tiên Kulagina làm cho quả tim đập nhanh hơn, sau đó chậm dần và—thông qua một quá trình tập trung tư tưởng cao độ—đã có thể hoàn toàn làm nó ngừng đập.

Điều đáng mừng là, bà không thể thực hiện quyền năng tương tự với quả tim của người. Kulagina nói rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm kiểm soát các bộ phận của người sẽ dẫn đến hậu quả tồi tệ, vì thông thường cơ thể bà sẽ trở nên đau đớn khủng khiếp.

Mặc dù đây có thể là những tuyên bố thái quá, nhưng bà Nina Kulagina chưa từng bị chứng minh là gian lận và chưa từng có ai bắt quả tang bà gian lận, cho dù có những tuyên bố cho rằng “năng lực” của bà không có gì khác ngoài những sự khéo léo của bàn tay và những mánh khóe rẻ tiền.

Một giả thuyết thú vị hơn nói rằng sức mạnh của bà không hề tồn tại, và các thước phim chỉ là một phần âm mưu của Xô Viết nhằm gây áp lực lên Mỹ. Rút cục, điều gì có thể khiến chúng ta lo lắng hơn việc biết rằng kẻ thù của bạn có thể đang sở hữu một đội quân siêu năng lực?

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Jun 2018 lúc 7:02pm
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 3 : KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ KHOA HỌC CHIÊM TINH (tiếp theo)

Ý niệm về Thượng đế là điều phái đoàn luôn luôn nghe nói đến, người dân Á châu có một tinh thần tôn giáo rất mạnh, tôn sùng Thượng đế quá nhiệt thành. Họ đâu hiểu rằng người Âu vốn có óc hoài nghi, thường thay thế cái đức tin đơn giản bằng cái lý trí phức tạp. Làm sao họ có thể hiểu rằng Thượng đế chỉ là một quan niệm, một giả thuyết cũng như trăm ngàn giả thuyết khác nghĩa là cần phải chứng minh cụ thể.

Babu mỉm cười như đọc được ý nghĩ mọi người :
– Này các bạn, cái lý trí tự cao tự đại của con người không có ích gì cả. Chỉ khi nào họ đạt đến trạng thái tĩnh lặng của tâm hồn, họ mới ý thức các luật huyền bí vũ trụ và sự nhỏ bé của con người. Khi tách khỏi trạng thái u mê của lý trí, họ mới ý thức sự an lạc tuyệt vời khi hoà hợp với Thượng đế.

Giáo sư Allen lắc đầu :
– Tại sao ông không nghĩ rằng đó là một ảo ảnh ? Một sự tưởng tượng ?

Babu bật cười :
– Này các bạn, một bà mẹ sinh con có khi nào lại nghi ngờ rằng đứa con đó không có thật. Khi hồi tưởng lúc lâm bồn, có khi nào bà ấy cho rằng đó chỉ là một sự tự kỷ ám thị ? Khi nhìn đứa con mỗi ngày một lớn khôn làm sao bà mẹ lại nghĩ rằng đứa bé không hiện hữu? Sự giác ngộ tâm linh là một biến cố vô cùng quan trọng trong đời người, mà không ai có thể quên được vì từ đó, con người hoàn toàn thay đổi, trở nên một người mới .

Babu liếc mắt nhìn toàn thể phái đoàn, tất cả đều là những giáo sư, khoa học gia danh tiếng nhất… Y mỉm cười tuyên bố :
– Chúng ta chỉ mới ở vào buổi bình minh của khoa học, nhưng mỗi khám phá mới, mỗi kiến thức mới, đều đem lại cho chúng ta một bằng chứng rằng, vũ trụ này là công trình của một đấng hoá công. Hãy lấy một thí dụ toán học cho dễ hiểu. Nếu ta bỏ vào túi 10 thẻ nhỏ, mỗi thẻ có ghi từ số 1 đến số 10, và tuần tự rút ra từng cái một. Sau khi rút xong ta lại bỏ thẻ vào túi, trộn đều và rút ra lần nữa. Làm sao ta có thể rút tuần tự từ số 1 đến số 10? Theo toán học, ta phải rút mười lần, mới có một lần rút được thẻ mang số 1. Phải rút 100 lần mới có một lần rút được số 1 và 2. Phải rút 1000 lần mới được số 1, 2, 3 liên tiếp. Nếu muốn rút theo thứ tự từ 1 đến 10, thì trường hợp đặc biệt này chỉ có thể xảy ra một lần trong mười tỷ lần, có đúng không ? Nếu áp dụng toán học vào các điều kiện tạo đời sống ở quả đất này, thì ta thấy nguyên lý ngẫu nhiên không sao hội đủ các điều kiện cần thiết. Vậy thì ai đã tạo ra nó ?

Trái đất quay quanh trục của nó với vận tốc 1600 cây số một giờ ở giữa đường xích đạo. Nếu nó quay chậm 10 lần thì ngày sẽ dài gấp 10 và dĩ nhiên sức nóng của mặt trời cũng gia tăng gấp 10 lần. Thế thì cây cối, sinh vật đều bị thiêu sống hết còn gì. Nếu cái gì chống được sức nóng cũng chết lạnh vì đêm cũng dài ra gấp 10 và sức lạnh cũng tăng lên gấp 10 lần kia mà. Ai đã làm trái đất quay trong một điều kiện tốt đẹp như thế ? Mặt trời là nguồn sống của quả đất phải không ? Mặt trời nóng khoảng 5500 độ bách phân. Quả địa cầu ở đúng một vị trí tốt đẹp không xa quá mà cũng không gần quá. Vừa vặn đủ để đón nhận sức nóng của mặt trời. Nếu sức nóng mặt trời gia tăng một chút, ta sẽ chết thiêu, và ngược lại nếu sức nóng mặt trời giảm đi một chút, ta sẽ chết rét. Tại sao trái đất nằm ở điều kiện thuận lợi như vậy ? Trục trái đất nghiêng theo một tọa độ là 23 độ. Nếu trái đất đứng thẳng, không nghiêng theo bên nào thì sẽ không có thời tiết bốn mùa. Nước sẽ bốc hơi hết về hai cực và đồng thành băng giá cả.

Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất, điều khiển thuỷ triều biển cả. Nếu nó không cách xa trái đất 380 000 cây số mà xích lại gần hơn 80 000 cây số thì một cuộc hồng thuỷ sẽ xảy ra. Nước sẽ bị sức hút dâng lên ngập tất cả các lục địa mỗi ngày hai lần. Tóm lại tất cả mọi đời sống trên mặt địa cầu sẽ biến mất, nếu các điều kiện sai lệch đi một ly. Nếu nói rằng đời sống chỉ là một sự ngẫu nhiên thì trong tỷ tỷ lần may ra mới có một điều kiện tốt đẹp hoàn toàn để có được sự sống như thế !

Babu quay sang nhìn giáo sư Allen, một nhà sinh vật học của trường Harvard :
– Nếu toán học xem có vẻ trừu tượng quá, hãy thử quan sát thiên nhiên dưới cái nhìn của khoa sinh vật học (Biology) xem sao. Với khả năng sinh tồn của mọi vật, ta thấy sự hiện diện của tạo hoá rất chu đáo. Sự sống không có sức nặng hay bề đo mà mạnh mẽ làm sao. Bạn hãy nhìn một rễ cây non nớt, mềm yếu, vậy mà nó có thể soi nứt một tảng đá cứng rắn. Sự sống chinh phục không khí, đất, nước. Nó thống trị mọi nguyên tố, nó bắt buộc vật chất tan rã rồi lại kết hợp thành các hình thể mới. Sự sống là nhà điêu khắc nặn thành những hình thể mới lạ, là hoạ sĩ vẽ những cảnh vật thiên nhiên tô điểm cho tạo hoá. Sự sống cũng là nhạc sĩ dạy chim hót thánh thót, dạy côn trùng ngân nga, là nhà hoá học chế các hương thơm, quả ngọt. Sự sống từ các loài thảo mộc thu hút thán khí biến thành dưỡng khí nuôi muôn loài.

Hãy nhìn những giọt nguyên sinh chất (protoplasm) trong suốt gần như vô hình, mắt ta không thể nhìn thấy, mà nó di động nhờ hấp thụ sinh khí thái dương. Chính cái tế bào đơn độc này chứa mầm sống của muôn loài, và là cội nguồn của toàn sự sống theo khoa học thực nghiệm. Tự nó không tạo ra sự sống vậy thì sự sống ở đâu đã đến ? Này các ông bạn, cá hồi (salmon) sinh ra ở nước ngọt, theo dòng nước ra biển và sống ở đây cho đến khi trưởng thành rồi lại trở về nguồn. Hãy nhìn nó lội ngược dòng về sinh quán, nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt nó đem đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đã dạy cho nó phân biệt một cách chắc chắn như vậy ?

Loài lươn biển cũng thế, chúng rời sinh quán từ các ao hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài khơi quần đảo Bermuda. Muốn đến đây, một con lươn Âu châu phải đi gần 4000 cây số, lươn Á châu phải đi xa hơn, có khi gần 8000 cây số. Chỉ tại đây chúng mới sinh sản và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không biết gì về sinh quán mà vẫn trở về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó. Biết tìm về một cái lạch ở Pháp hay một cái hồ ở Nam dương. Giống nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ bị bắt ở Ấn độ và một con lươn giống Thái lan không bao giờ đi lạc sang Phi châu. Ai đã ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đã hướng dẫn những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể do ngẫu nhiên phải không các bạn ?

Toàn thể phái đoàn kinh ngạc trước kiến thức quảng bác của nhà chiêm tinh gầy gò, bé nhỏ. Không ai ngờ một xứ chậm tiến như Ấn độ lại có một nhà bác học uyên thâm như vậy. Babu mỉm cười nói tiếp :
– Có lẽ các ông còn nhiều phân vân, thôi được hãy nói về yếu tố di truyền cho thực tế hơn. Yếu tố này là một mầm sống nguyên thuỷ rất nhỏ chứa đựng trong tất cả các tế bào. Mọi sinh vật đều có đặc điểm di truyền khác nhau. Yếu tố này cho ta thấy rõ sự sống đã được trù định từ trước vì một cái cây sẽ tạo ra một cái cây, chứ không phải con vật. Từ các loại sinh vật bé nhỏ như con kiến đến các loài sinh vật to lớn như cá voi đều chịu sự chi phối của yếu tố này. Điều này chắc chắn không phải ai nghĩ ra hay ngẫu nhiên phải không ? Chỉ có đấng sáng tạo mới có đủ quyền năng làm các việc đó.

Này các bạn, khắp nơi trong vũ trụ đâu đâu cũng có một sự quân bình tuyệt đối, không loài nào lấn át loài nào. Hãy nhìn loài côn trùng, chúng sinh sản rất nhanh mà sao không chiếm quả đất ? Ấy là vì chúng không có bộ phổi như loài có vú (mammal). Chúng thở bằng khí quản (trachea) và khi chúng lột xác lớn lên, khí quản không lớn theo nên thân thể chúng bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định.

Con người hơn loài thú ở điểm lý trí. Bản năng con thú tuy kỳ diệu, nhưng bị giới hạn. Bộ óc con người tuyệt vời ở chỗ nó có thể vượt xa tầm giới hạn của nó. Muốn quan niệm sự hiện hữu của Thượng đế, cần phải có một năng khiếu mà chỉ loài người mới có. Ta có thể gọi nó là trí tưởng tượng cũng được, nhưng nhờ nó mà con người mới thu nhận các sự kiện vô hình, vô ảnh. Trí tưởng tượng mở cho ta một chân trời bao la và nhờ thế ta mới ý thức một thực tại tuyệt diệu rằng Thượng đế là tất cả, ngài ở khắp mọi nơi, nhưng không ở đâu ngài hiện rõ như trong tâm hồn chúng ta !

Toàn thể phái đoàn yên lặng, thán phục những dẫn chứng hoàn toàn khoa học và giản dị của nhà chiêm tinh. Vài giờ trước đây, ai cũng nghi ngờ khả năng của “gã thầy bói”; nhưng hiện giờ mọi người đều công nhận y là một nhà bác học với kiến thức uyên bác không thua ai.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 30 Jun 2018 lúc 5:52am

URI GELLER

Uri Geller bắt đầu nổi danh từ những lần xuất hiện trên truyền hình Israel, biểu diễn những khả năng phi thường như kiểu: dùng ý nghĩ di chuyển đồ vật, đọc ra tâm trạng người đối diện, tìm kiếm những vật giấu kín nhờ suy đoán tâm linh… Không ít lần, Geller khiến tất thảy khán giả ngạc nhiên bởi cách bẻ cong thìa sắt, bắt kim đồng hồ dừng lại hoặc tăng tốc mà không cần chạm tới một ngón tay...

Uri Geller sinh ngày 20-12-1946 tại Tel Aviv, Israel. Bố mẹ là người Do Thái gốc Áo - Hungaria. Năm lên 4, Geller nhìn thấy một quả cầu ánh sáng kỳ lạ ở trong vườn nhà. Khi lên 5 tuổi, lúc gia đình đang ăn cơm, thì Uri Geller nhìn vào một chiếc nĩa bằng inox và có ý muốn nĩa thẳng ra hơn một chút. Lập tức, Geller nhận thấy chiếc muỗng thẳng ra như ý muốn trước sự ngạc nhiên của các thành viên trong gia đình.

Một thời gian sau đó, Geller còn khám phá ra bản thân mình có thể nhìn vào đồng hồ và bắt nó dừng lại nếu muốn. Đôi khi, anh còn đọc được suy nghĩ của người đối diện. Khi gia đình biết chuyện, khuyên Geller nên giữ kín bí mật này, nếu không hậu quả sẽ rất trầm trọng. Người ta sẽ gọi Geller là “phù thủy” và cũng sẽ tìm mọi cách lên án, tẩy chay.

Năm 11 tuổi, Geller theo gia đình chuyển tới Cộng hòa Síp và theo học một trường trung học Cơ đốc nhưng chưa tốt nghiệp. Năm 17 tuổi Geller nhập ngũ và bị thương năm 1967. Năm 1968-1969, khi Geller 22 tuổi, anh làm người mẫu ảnh và bắt đầu trình diễn trên một sân khấu nhỏ...

Những năm 1970, Geller nổi danh tại Mỹ và châu Âu vì khả năng tâm linh và trở thành người biểu diễn trên truyền hình. Geller tuyên bố có khả năng thần giao cách cảm, viễn di sinh học và cảm xạ học (bẻ cong thìa, mô tả bức tranh giấu kín, điều khiển đồng hồ ngừng chạy, chạy nhanh hay chậm hơn... bằng “sức mạnh ý chí”). Theo lời kể thì khả năng của Geller huyền diệu đến mức, ngay tại nhà khán giả xem truyền hình, thìa nĩa và vật dụng kim loại cũng cong tít.

Năm 1972, Geller rời Israel để đến châu Âu. Ở đây anh nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Trước sự chứng kiến của rất nhiều phóng viên, nhà nhiếp ảnh, anh đã dừng một xe cáp treo bằng sức mạnh của ý nghĩ. Và ở Đức, Geller cũng làm một thang máy ở một siêu thị lớn phải ngừng hoạt động. Cũng vào năm này, Geller được nhà du hành vũ trụ, Thuyền trưởng Edgar Mitchell của Tàu Apollo 14, người thứ 6 đặt chân lên mặt trăng, mời đến Mỹ.

Năm 1984, Geller đã xóa một số dữ liệu máy tính của trường Đại học Tokai, Tokyo, trước sự ngỡ ngàng của một nhóm các nhà khoa học, trong đó có cả chuyên gia máy tính hàng đầu của Nhật. Năm 1986 và 1987, Geller còn xóa gần hết một số tệp tin máy tính của cơ quan phát hành báo lớn nhất Đức, Axel Springer Verlag. 

Năm 1991, Geller thậm chí còn làm cho chiếc đồng hồ nổi tiếng của Anh, Big Ben, phải ngừng quay. Ông tiếp tục “gây sốc” như vậy thêm 2 lần nữa. Ba năm sau, báo chí thế giới lại đưa tin vào tháng 5-1997 chiếc đồng hồ Big Ben dừng ở 12:11, tức 11:11 theo giờ GMT. 11:11 là con số bí ẩn của Uri Geller.

Uri Geller cũng từng được giao nhiệm vụ chữa bệnh cho những người nổi tiếng. Đơn cử như việc Geller trị vết thương cho David Beckham và Wayne Rooney trước thềm World Cup 2002 và 2006. Ông đặt một bức ảnh của Rooney và Beckham trong nhà riêng và tập trung năng lượng, giải phóng chấn thương cho hai ngôi sao này.

Biết đến với khả năng tâm linh độc nhất, Geller đã từng được cảnh sát Mỹ mời tham gia vụ án truy tìm “Con trai của Sam” - tên tội phạm điên loạn khét tiếng. Theo đồn đại, cũng chính nhờ năng lực siêu phàm của “ông bóng” mà người ta phát hiện ra nhiều manh mối quan trọng, góp phần dẫn tới vụ bắt giữ Saddam Hussein. 

Uri Geller cũng tuyên bố kiếm được nhiều triệu USD từ các công ty dầu mỏ do dùng cảm xạ phát hiện vàng và dầu sâu trong lòng đất, đôi khi chỉ bằng cách vẫy tay trên bản đồ. 

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 04 Jul 2018 lúc 7:42pm
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 3 : KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ KHOA HỌC CHIÊM TINH (tiếp theo)

Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi người và nói :
– Là khoa học gia, các ông hãy suy nghĩ về những điều tôi vừa trình bày. Hãy quan sát vũ trụ, hãy dẹp bỏ các thành kiến sẵn có, và sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm, rồi các ông sẽ thấy tất cả đều diễn ra trong một trật tự, mỹ lệ và điều hoà… Các ông sẽ ý thức sự bé nhỏ của con người trước vũ trụ bao la vì khoa học xây dựng trên căn bản của giác quan vốn rất giới hạn, sao có thể cảm xúc vũ trụ được ? Nếu ta cứ khăng khăng cho rằng những cái gì không nghe được, không nhìn được, đều không hiện hữu thì thật là một sai lầm tai hại. Có biết bao nhiêu sự kiện xảy ra mà giác quan giới hạn của con người không thể cảm nhận, cho đến một ngày nào họ khai mở các giác quan khác….

– Làm sao ông biết như thế ?

– Tôi đã nghiên cứu trực tiếp các vấn đề này trong khi Thiền định. Các sách vở bí truyền cũng đều nói rất rõ như vậy…

Giáo sư Mortimer hấp tấp :
– Chúng tôi có thể nghiên cứu hay phiên dịch những sách này không ?

Babu mỉm cười :
– Liệu ông có muốn bỏ ra vài chục năm để phiên dịch không ? Sách vở huyền môn đâu phải loại sách phổ thông để mọi người coi chơi. Theo tôi hiểu thì chỉ một thiểu số người thích nghiên cứu nó vì trong tiền kiếp họ đã có những hứng khởi tâm linh, đã từng nghiên cứu vấn đề này, đã có đủ trí tuệ để xét suy một cách tường tận. Họ là những người đã đến bên thềm Đạo và sắp bước vào. Chỉ những người này mới thích thú để tâm nghiên cứu những quyển sách khô khan như những sách trong nhà tôi.

Toàn thể phái đoàn im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng nhưng tất cả đều đồng ý rằng nhà chiêm tinh nói không sai. Giáo sư Allen lên tiếng :
– Tại sao thấy ánh sáng Chân Lý rồi mà ông vẫn tiếp tục hành nghề chiêm tinh. Tại sao ông còn chỉ vẽ cho người đời quá khứ, vị lai ?

Babu hãnh diện tuyên bố :
– Tôi sống và phụng sự thế gian bằng nghề nghiệp này. Đâu phải ai tôi cũng tiếp. Dù bạn là tiểu vương hay thủ tướng. Nếu thấy bạn không có tâm hướng thiện, sửa đổi thì không đời nào tôi hé môi nói một điều gì. Biết bao người đã đến cổng, nhưng mấy người vào được đến đây. Cách đây ít lâu, một tiểu vương cho khuân đến một rương ngọc chỉ để hỏi tôi một điều nhưng tôi không trả lời. Nếu không nhận được một thông điệp bằng tư tưởng thì dễ gì tôi tiếp các ông và nếu không xem qua lá số của giáo sư Oliver , dễ gì tôi tiết lộ các bí mật cho những người lạ, nhất là người Âu Mỹ.

Từ xưa đến nay, khoa chiêm tinh vẫn bị người đời hiểu lầm và diễn tả sai lạc rất nhiều. Nhờ nghiên cứu bộ sách nguyên thuỷ Brahma Chinta nên tôi có thể nói cho các ông biết chút ít về khoa học này, với hy vọng sẽ đánh đổ phần nào thành kiến sai lầm của người Âu. Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau, đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp do các nguyên nhân hợp với thiên ý hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều chứa chấp trong Tàng thức hoặc A-lại-da-thức (alaya-vijnana), và trở nên một động lực chi phối đời ta. Động lực này được phân phối bởi các mãnh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức tạp, và biến thành một thứ gọi là Vũ trụ tuyến (cosmic rays).

Những vũ trụ tuyến này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay, mà tuỳ theo sự thay đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Điều này rất hợp lý vì trải qua vô lượng kiếp sống, con người đã làm biết bao điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được. Đó cũng là lý do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử. Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hành của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu chiêm tinh mà người ta hiểu rõ rằng không hề có một Đấng Thần Linh thưởng phạt hay kiểm soát các hành động của ta. Tất cả chỉ là hậu quả của những gì do ta tạo nên và phải gánh chịu.

– Nhưng chính ông đã đề cập đến thượng đế và sự hiện hữu của ngài kia mà?

Babu bật cười :
– Các ông vẫn còn quan niệm rằng thượng đế là một ông già ngồi trên cao nắm quyền sinh sát, định đoạt số phận con người – đó là một quan niệm rất ấu trĩ. Thượng đế cao cả hơn nhiều, ngài sáng tạo và đặt tất cả vào một trật tử trong vũ trụ. Làm gì có việc ngài định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ, nhân nào quả nấy, một lực nào cũng có một phản lực đi kèm đó là khoa vật lý chứ đâu phải gì xa lạ ? Làm gì có việc số mệnh đã định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất động mặc cho số phận run rủi hay sao ?

Này các ông bạn, chiêm tinh học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ, không thể có vấn đề mê tín. Lá số tử vi không có nghĩa là con người chỉ là nô lệ của quá khứ mà chỉ cho ta thấy rõ sự tuần hoàn của vũ trụ mà trong đó con người có thể thay đổi tính mạng. Chiêm tinh học nghiên cứu phản ứng của con người dưới ảnh hưởng tinh tú. Các tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu lộ một cách trung thực các tác động quân bình của nghiệp quả gây nên trong quá khứ. Mỗi người sinh ra đời vào một ngày giờ mà ảnh hưởng của tinh tú hoà hợp với nghiệp quả cá nhân của y. Các vũ trụ tuyến được tinh tú phản chiếu xuống làm mạch máu di chuyển, tế bào thay đổi, dĩ nhiên ảnh hưởng đến cuộc đời con người .

Mặc dù con người không thể thay đổi việc đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nhờ ý chí tự do, y có thể vượt khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh hưởng tinh tú. Tôi lấy một thí dụ như thương gia Keymakers, bạn của các ông. Đáng lý theo số mạng thì ông ta phải chết trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng vì một mầm thiện nẩy sinh, thấy chiến tranh quá ư tàn khốc, ông động lòng trắc ẩn mang tài sản ra giúp đỡ rât nhiều nạn nhân chiến cuộc. Dĩ nhiên, khi đó ông ta không hề biết gì về số mạng của mình, nhưng hành vi bác ái này đã tạo một phản lực mạnh mẽ thúc đẩy các vũ trụ tuyến xê dịch sang một bên và nhờ thế ông ta thoát chết.

Số mạng của ông ta hoàn toàn thay đổi từ đó. Các ông hiểu rằng hoán cải số mạng không có nghĩa việc quá khứ sẽ bị xoá bỏ, nhưng đáng lý một biến cố lớn sẽ xảy ra trong kiếp này, lại không xảy ra. Khi ta phát tâm làm một việc hợp với thiên ý thì một ảnh hưỏng tinh tú bỗng chói sáng và các từ điện mạnh mẽ đẩy ngược luồng vũ trụ tuyến sang hướng khác. Do đó, con người có thể cải số mệnh dễ dàng, nếu biết làm các việc tốt lành, đẹp đẽ. Dĩ nhiên , ảnh hưỏng xấu không mất đi, nhưng sẽ tiềm ẩn, chờ một cơ hội khác sẽ phát hiện lại. Nói một cách khoa học thì đời người có thể ví như một phương trình toán học, A * B bằng C. A và B là nguyên nhân và C là hậu quả, nhưng nếu ta thêm vào đó một nguyên nhân X thì A * B * X sẽ không thể bằng C nữa, vì đã có thêm nguyên tố X. Đó là nguyên lý hoán cải số mạng mà tôi vừa trình bày.

Đời người thực ra đã ghi khắc trên tinh tú nhưng các tinh tú khi sáng khi mờ, và sự mờ tỏ do chính ta quyết định. Khi ta có các hành vi xấu xa nó tạo ra những động lực xấu và số thu hút các điều xấu ghi khắc trên tinh tú, phản chiếu xuống mau lẹ hơn. Dĩ nhiên hậu quả không thể lường. Trái lại, nếu ta ý thức điều này, phát tâm làm việc hữu ích tự nhiên phát sinh các động lực tốt đánh bật các ảnh hưởng xấu sang một bên. Nhờ nghiên cứu chiêm tinh học một cách đứng đắn, khoa học, con người sẽ hiểu biết mệnh trời, biết tin tưởng ở mình, và sống cuộc đời thoải mái, không bi quan, không lạc quan, an vui tự tại.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 07 Jul 2018 lúc 6:21am
TIỀN NHÂN NÓI VỀ DANH

“Sự vĩ đại không nằm trong tài sản, quyền lực, danh vọng hay tiếng tăm. Nó được phát hiện trong lòng tốt, sự nhún nhường, sự phụng sự và tính cách.” -William Arthur Ward


Sưu tầm

*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 11 Jul 2018 lúc 5:52am

NGÒI BÚT MẠNH HƠN CƯỜNG QUYỀN

"Khi tiểu thuyết Mối Chúa in lần đầu trong nước, vì sự an toàn của một vài người mà tác giả mang ơn, nên tác giả đồng ý cắt đi một số đoạn. Nhưng kể cả như vậy thì Mối Chúa vẫn gặp vấn đề, không thể tiếp tục đến tay bạn đọc qua hệ thống xuất bản hiện hành. Với tư duy 0.0, nền xuất bản của chúng ta tiếp tục vui vẻ với thành tựu kẽo kẹt lê lết về quá khứ.

Chưa khi nào tôi nản lòng với sự cấm đoán, vì tôi quá hiểu nền chính trị này, hiểu đến mức không một lời oán thán những người đã, đang và sẽ còn làm khó dễ cho việc in sách của mình. Họ cũng khổ như phần lớn chúng ta vậy: Vì miếng cơm manh áo, đành nghĩ và muốn một đằng nhưng cứ phải làm một nẻo. Nhiều người trong số họ thậm chí còn quý mến tôi và chưa khi nào tôi nghĩ xấu về họ.

Tuy nhiên, nghĩa vụ của tôi, với tư cách người cầm bút, ăn lộc của tổ tiên và nhân dân, là phải bất chấp tất cả để tiếp tục đứng về phía những người thấp cổ bé họng, những người bị thời cuộc hất ra lề, những người không có cơ hội nói lên sự thật, tố cáo bất công, cổ vũ lòng can đảm dấn thân cho công lý, đạo đức và cái đẹp, hoặc ít nhất cũng ghi lại một phần lịch sử qua những mô tả hiện thực cuộc sống mà tôi là một phần."
.................................................................................

(Trích "Mấy lời cùng bạn đọc yêu quý" Tạ Duy Anh - Lao Ta )

*

Tạ Duy Anh
(sinh năm 1959) là một nhà văn Việt Nam. Ông còn viết với các bút danh Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm.(tuổi 68)
 
Nguyên tên khai sinh của ông là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1959. Quê ông ở thôn Cổ Hiền, xã Hoàng Việt, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ông từng làm cán bộ giám sát chất lượng bê tông ở Nhà máy thủy điện Hòa Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai. Sau đó Tạ Duy Anh tham gia học ở Trường viết văn Nguyễn Du. Trải qua 4 năm học, ông đỗ đầu và được giữ lại làm giảng viên. Là cây bút trẻ trong thời kì đổi mới. Hiện ông là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993.

Mối chúa
(2017) do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn liên kết cùng Công ty Văn hóa và truyền thông Nhã Nam xuất bản. Theo Cục Xuất bản, in và phát hành (Bộ Thông tin - truyền thông): "Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn... “ . Tác phẩm này bị cấm cho đến nay !
 
Sưu tầm
 
 
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 14 Jul 2018 lúc 6:13am

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương 3 : KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ KHOA HỌC CHIÊM TINH (tiếp theo)

– Như thế người đi trên đường Đạo, sẽ gặp gì khi đã có nghiệp quả xấu ?

– Nghiệp quả xấu ví như một án treo, bất động, nhưng không ai có thể tránh được nó. Đối với những người đã vào cửa Đạo, đã hiểu biết thì họ lại cầu xin được trả quả cho lẹ. Tuy họ không gây các nhân xấu nữa, nhưng họ đủ can đảm để chịu đựng nghiệp quả. Có thế họ mới rút ngắn thời gian trong sinh tử luân hồi. Hiểu biết mệnh trời để sống thoải mái chính là mục đích của khoa chiêm tinh chân chính.

Babu im lặng suy nghĩ. Sau cùng, y bước đến một tủ lớn mang ra một cái hộp nạm vàng rất đẹp. Trong hộp chứa một quyển sách cổ viết trên lá buôn (papyrus), y long trọng tuyên bố :

– Đây chính là một phần của bộ Brahma Chinta mà tôi sưu tầm được. Các ông nên biết huyền môn có hai phần. Công truyền (exoteric) và bí truyền (esoteric). Loại bí truyền chỉ được dạy cho các đệ tử đã bước vào cửa Đạo, đã được tuyển chọn rất kỹ. Hiền triết Bhrigu chỉ truyền cho 4 đệ tử bộ sách này. Tôi tiếc rằng mẫu nhỏ này còn nhiều thiếu sót và rất khó hiểu, mất hơn 20 năm nghiên cứu, mà tôi chỉ hiểu chút ít thôi. Gặp gỡ các bạn bữa nay là một nhân duyên hiếm có, tôi xin dịch vài trang để làm quà cho các bạn :

“ Vạn vật trong vũ trụ dù ở cõi vô hình hay hữu hình đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số 7. Tất cả mọi hình thức sinh hoạt trong dãy hành tinh hiện tại đều thuộc một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm . Toàn thể Thái dương hệ của chúng ta đều là sự biểu lộ của thượng đế, mỗi phần tử trong đó đều là một phần của ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (logo) mỗi vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực, những con đường vận hà để thần lực thượng đế ban rãi ra.

Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cõi giới Hạ giới ,Trung giới, và Thượng giới. Thượng đế cũng thế, tất cả vật chất trong Hạ giới hợp thân thể xác của ngài . Tất cả vật chất cõi Trung giới hợp thành vía của ngài, và tất cả vật chất cõi Thượng giới hợp thành thể trí của ngài. Tóm lại, tât cả đều là thành phần của thượng đế từ hạt bụi đến các dãy thiên hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần của thượng đế xuyên qua 7 cung – khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều, tuỳ ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh hưởng cung nào tuỳ số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung liên hệ.”

Babu nhìn mọi người thấy họ có vẻ ngơ ngác. Y mỉm cười giải thích :

– Đề tài này rất khó hiểu, thôi để tôi giải thích rộng ra vậy. Nói theo danh từ Thiên chúa giáo thì 7 vị tinh quân này đã xuất hiện trong linh ảnh (vision) của Thánh Jean. Sách khải huyền 4.5 nói rõ, “có 7 ngọn đèn thắp trước ngài, đó là 7 vị đại thiên thần của chúa trời”. Lúc khởi thuỷ, mọi người chúng ta đều là thành phần của thượng đế, nghĩa là cùng bắt nguồn từ một nơi. Sau đó, chúng ta tách rời ra, xuyên qua 7 con đưòng vận hà này. Theo sự hiểu biết của tôi, thì 7 con đưòong biểu lộ 7 đức tính của thượng đế, qua 7 vị tinh quân.

Vị thứ nhất là thiên thần Michael (sức mạnh), liên hệ đến hoả tinh. Vị thứ hai là Gabriel (toàn tri) liên quan đến thuỷ tinh. Vị thứ ba là Raphael (quyền năng) liên quan đến thái dương. Vị thứ tư là Uriel (ánh sáng) liên quan đến mặt trăng. Vị thứ năm là Zakiel (hảo ý) liên quan đến mộc tinh, còn hai vị kia là Jophiel và Samuel thì tôi không biết rõ hành tinh liên hệ.

Khoa học thực nghiệm tin rằng các hành tinh đều là sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất. Nếu là ngẫu nhiên tại sao chúng nằm ở các vị trí nhất định trong vũ trụ, và di chuyển theo một quỹ đạo cố định ? Mọi vật dường như tuân theo một định luật thiên nhiên, nhưng đằng sau định luật đó luôn luôn có một sức mạnh thiêng liêng cai quản.

Tôi cố gắng dùng tên các vị thiên thần và danh từ Thiên chúa giáo để giải thích cho các ông . Điều này có thể được diễn tả khác đi tuỳ theo quan niệm tôn giáo, văn hoá; nhưng sự thật vẫn là một. Muốn hiểu khoa chiêm tinh phải đi ngược về nguồn cội. Con người từ một chốn nguyên thuỷ ví như nước cùng một nguồn chảy theo bảy dòng suối khác nhau để ra biển. Mỗi dòng suối sẽ mang một tính chất khác nhau, do đó nước trong suối cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều.

Loài người có thể phân biệt ra 7 đức tính rõ rệt tuỳ theo con đường vận hà mà họ trải qua. Chiêm tinh nghiên cuú con người và ảnh hưởng hành tinh đến các tính nết nhất định. Cũng như khoa Sinh lý học phân biệt con người qua tính chất nồng nhiệt, lãnh đạm, bạch huyết chất hay đa huyết chất. Thực ra đó chỉ là các phương pháp khác nhau để trình bày tính chất con người. Dĩ nhiên không dễ gì tìm ra cung của mỗi người vì y đã đi sâu trong luân hồi sinh tử, tạo các nghiệp quả phức tạp, và những nguyên nhân này chế ngự, ảnh hưởng đến tính tình y rất nhiều.

Chỉ với sự khai mở các giác quan như Thần nhãn hay có một kinh nghiệm sâu xa về huyền môn, ta mới có thể biết rõ họ thuộc cung nào. Nếu một người biết rõ cung của mình và tiếp tục trau dồi bản tính sẵn có, thì y sẽ tiến bộ rất nhanh, vì khí cụ hữu hiệu nhất là phương pháp thuộc về cung liên hệ. Thí dụ như người có khiếu về âm nhạc lại cứ học toán. Không phải y sẽ không tiến bộ gì, nhưng nếu đi về âm nhạc y sẽ tiến nhanh hơn vì hợp với khả năng hơn.

Sự hiểu biết mình là ai, có những khả năng tiềm ẩn nào sẽ giúp ta định hướng đi cho chính xác. Đó mới là mục đích của khoa chiêm tinh. Đa số con người hành động không ý thức, chịu ảnh hưỏong ngoại cảnh, nên luôn bất mãn, không thoải mái. Họ tự đóng kịch với chính mình, hoặc sống theo một lề lối khuôn khổ không thích hợp.

Trong Kinh thánh có câu, “nếu các ngươi không hồn nhiên như trẻ con, các ngươi không thể vào nước thiên đàng”. Điều này khuyên ta nên sống thật với chính mình. Chiêm tinh học có thể giúp ta biết ta là ai, thích hợp với nhũng công việc gì ? Sự nghiên cứu chiêm tinh như thế mới gọi là đứng đắn chứ không phải chỉ xem quá khứ, vị lai, may rủi.

– Làm sao con người có thể biết họ thích hợp với cung nào ?

– Một nhà chiêm tinh giỏi có thể lấy lá số tử vi để xem cá nhân liên hệ với cung nào, điều này đòi hỏi rất nhiều thời giờ, kinh nghiệm. Một phương pháp khác là hãy nhìn hành động mỗi người . Người thuộc cung 1 sẽ đạt đến mục đích bằng sức mạnh ý chí. Người thuộc cung 2, phân tích kỹ lưỡng vấn đề để lựa chọn phương pháp nào hữu hiệu nhất. Người thuộc cung 3 nghiên cứu rất kỹ về thời gian, giờ khắc thuận lợi nhất v..v…

Một thí dụ khác như trong việc chữa bệnh, người cung 2 sẽ tìm hiểu nguyên nhân và phương pháp nào thích hợp nhất để chữa bệnh, khi người ở cung 3 sẽ nghiên cứu thời gian nào thuận lợi để chữa. Người ở cung 6 sẽ tìm cách chữa bệnh bằng đức tin. Người thuộc cung 7 sẽ chữa bằng các nghi lễ, cúng tế, v..v..

Tuy nhiên,cách tốt hơn hết là tự mình, xét lấy mình. Hãy dẹp bỏ những điều mình vẫn khoác lên bản ngã như danh vọng, địa vị, ham muốn. Hãy thành thật với chính mình thì ta có thể xem được mình thuộc về cung nào. Nếu ta là người có ý chí mạnh mẽ, cương quyết làm việc trong tinh thần khoa học thì có lẽ ta ở cung 1. Nếu là người khôn khéo, thích lý luận và làm việc một cách hiệu quả thì có lẽ ở cung 2. Nếu là người nhạy cảm, thích hoạt động xã hội, từ thiện thì có lẽ ta thuộc cung 5. Nếu là người có đức tin mạnh mẽ, cẩn thận, có thể ta thuộc cung 7, v..v…

Đề tài các cung rất khó giải thích trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt thôi. Cái vật chất sơ khai nguyên thuỷ bắt đầu tiến hoá qua 7 con đường vận hà hay 7 đức tính quan trọng. Chỉ khi nào con người phát triển toàn vẹn cả 7 đức tính này, y sẽ trở nên toàn thiện.

Dĩ nhiên , chúng ta đều bất toàn dù mỗi cá nhân đã nảy nở các đức tính cần thiết căn bản. Người Âu tây đã khai mở rất nhiều khả năng suy luận, khoa học, nhưng thiếu khả năng sùng tín, bác ái. Vì lý trí nảy nở nhiều hơn tình cảm nên họ có vẻ thiếu thiện cảm, lạnh lùng, thích chống báng thay vì dung hoà. Trong khi đó, người Á châu phát triển mạnh mẽ về sự sùng tín, bác ái, nhưng thiếu khả năng suy luận, để tình cảm chi phối nên họ có vẻ chịu đựng, nhượng bộ, khoan dung, dễ dãi. Cả hai đều không quân bình tuyệt đối, nên trong tương lai sẽ có các biến chuyển mạnh, xáo trộn để cả hai dân tộc có dịp học hỏi, hoà hợp với nhau.

(còn tiếp)





Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 2978
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: Hôm nay lúc 6:15am
THẤT BẠI

Một lần ở London thủ đô nước Anh, Martin Graham dẫn mình đi chơi, lúc xuống một ga tàu điện ngầm, thấy một người phụ nữ bế con ngồi xin tiền ngay trên bậc thang đi xuống . Mình nhìn rất ngạc nhiên, thấy vậy Martin nói : "Chuyện ấy bình thường mà, ở đâu cũng có, họ là những người thất bại ...!"

Sau này, còn nhìn thấy những người "thất bại" ở nhiều nơi mình đã đi qua, từ London đến Hongkong, từ Paris đến New York ...

Hồi ấy, chỉ ghi nhận rằng : "Ở đâu cũng có những số phận khốn khổ", nhưng không hiểu lắm vì sao...

Hôm qua, nói chuyện với mấy bạn, đề cập đến chuyện "giàu nghèo" qua hình ảnh những người ăn mày, ăn xin, bán vé số ... có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm, khắp nơi trên thế giới này…

Hầu hết người bình thường đều nghĩ rằng đó là "số phận", và không liên quan gì đến việc mình đã và đang làm hằng ngày !

Thật ra, nó không chỉ là câu chuyện của số phận, mà sâu xa hơn, những người ấy có thể đã từng rất giàu có ! Câu chuyện ấy liên quan đến tất cả việc làm của từng người trong quá khứ và hiện tại, liên quan đến luật nhân quả của toàn thể vũ trụ… Sự tham lam, keo kiệt, bủn xỉn, tính toán quá chi ly gần như là một thuộc tính phổ biến, không riêng gì ở người Việt .

Trong bất cứ nền kinh tế nào cũng không thể thiếu các ngân hàng và các "định chế" tín dụng, các chủ tiệm cầm đồ, cho vay lấy lãi các kiểu ... Nghĩa là luôn có những người cố gắng thu lợi từ sự "kẹt, khó khăn" của người khác !

Ngân hàng và các công ty tài chính sẽ không bao giờ biến mất, mà sẽ luôn xuất hiện . Bên cạnh đó là các tổ chức từ thiện, giúp người không thu lợi, như là một đối trọng của một vòng xoáy không bao giờ ngừng.!

Liệu bạn có nhìn thấy vòng xoáy ấy của cuộc đời không ?

Sinh ra làm người là phước, nhưng cũng đồng thời bạn phải bước vào cái vòng xoay nghiệt ngã của sự mưu sinh …, phải cố hết sức mình, ít nhất để không trở thành người "thất bại", nhưng cũng không có gì đảm bảo chắc chắn là bạn sẽ thành công.!

Nhưng, bạn tin đi, nếu hôm nay bạn biết vì người khác, dù chỉ chút xíu ..., mãi mãi bạn sẽ không bao giờ trở thành người "thất bại"!

Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mòn,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa
Nguyễn Trãi
(Gia huấn ca)
 
Sưu tầm từ FB Nguyễn Thanh Bình (ngốc xịt)

Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 170171172

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.307 Giây.