Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Chi hội Kiev
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận RSS Feed: HẤP HÀO HOA
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

HẤP HÀO HOA

 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 177178179180181>
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 16 Feb 2019 lúc 6:18pm

BÔNG HỒNG VÀNG và BÌNH MINH MƯA

BÌNH MINH MƯA (tiếp theo)
 
Chiếc xe đi lên đê. Trời càng tối hơn. Trên những cây bạch liễu cổ thụ mưa ngái ngủ từ những chiếc lá lao xao rơi xuống. Vó ngựa đập trên cầu lát ván. “Xa thực!” Kuzmin thở dài và nói với ông lão đánh xe. - Bác đợi tôi bên cạnh nhà nhé! Rồi đưa tôi trở lại bến…
 
- Được thôi - Ông lão bằng lòng ngay tức khắc và nghĩ. Không, thế thì không phải chồng rồi. Chồng thì thế nào cũng ở lại vài ba ngày chứ. Chắc người ngoài.
 
Bắt đầu đến một con đường đá cuội. Chiếc xe lúc lắc, cái bệ bằng sắt kêu lạch cạch. Ông lão cho xe quặt sang vệ đường. Bánh xe êm ái lăn trên cát ẩm. Kuzmin lại suy nghĩ.
 
Basilốp bảo ghen với chàng. Tất nhiên, anh ta chẳng ghen gì hết. Chẳng qua anh ta đã dùng không đúng cái tự muốn nói ra. Sau cuộc trò chuyện với Basilốp bên cửa sổ bệnh viện, Kuzmin, ngược lai, bắt đầu thấy ghen với anh ta. “Lại không đúng từ rồi sao?” - Kuzmin bực bội tự nhủ. Chàng không ghen. Chàng chỉ tiếc. Chàng tiếc rằng mình đã bốn mươi, nhưng chưa bao giờ có được một tình yêu như Basilốp. Lúc nào chàng cũng chỉ có một mình. “Đêm, mưa rơi xào xạc trên những khu vườn hoang vắng, tĩnh lặng, sương mù từ những cánh đồng cỏ bay qua và thế là cả cuộc đời cũng qua nốt”. Không hiểu sao Kuzmin lại nghĩ như thế.
 
Chàng bỗng thấy muốn ở lại đây. Chàng yêu những tỉnh lỵ Nga, nơi đứng ở thềm nhà cũng có thể nhìn thấy những cánh đồng ở bên kia sông, những con đường rộng bò lên núi, những chiếc xe chở rơm trên những chuyến phà. Tình yêu ấy làm cho chính chàng cũng phải ngạc nhiên. Chàng sinh trưởng ở phương Nam trong một gia đình miền biển. Cha chàng để lại cho chàng tính ham thích tìm tòi, những bản đồ địa lý và cuộc sống lang thang…
 
Vì thế chàng đã trở thành nhân viên họa đồ. Kuzmin đã coi việc chọn nghề là ngẫu nhiên. Chàng nghĩ, nếu sinh ra vào lúc khác, có khi mình đã là thợ săn hoặc người đi tìm đất mới. Chàng thích nghĩ về mình như thế, nhưng chàng đã nhầm. Tính tình chàng không có có gì giống người làm những nghề kia. Kuzmin nhút nhát và hiền lành đối với xung quanh. Những sợi tóc phơn phớt bạc tố cáo tuổi chàng. Nhưng nếu nhìn người sĩ quan tầm thước, gầy gò không ai dám đoán chàng quá ba mươi.
 
Chiếc xe ngựa cuối cùng rồi cũng đi vào tỉnh lỵ tăm tối. Chỉ có một ngọn đèn xanh cháy sáng sau cửa kính một ngôi nhà, chừng là hiệu thuốc. Đường phố dẫn lên núi. Người đánh xe bỏ chỗ ngồi, bước xuống cho xe nhẹ thêm. Kuzmin cũng xuống theo, chàng đi tụt lại sau xe một quãng và bất thần chàng cảm thấy cả cái kỳ quặc của đời mình.
 
Ta đang ở đâu đây? - chàng nghĩ - Cái tỉnh lỵ Navôlôki nào đó, một nơi xa vắng, móng ngựa làm bật ra những tia sáng. Ở đâu đây có một thiếu phụ mà ta không biết. Ta phải chuyển cho nàng, giữa đêm hôm khuya khoắt như thế này, một bức thư quan trọng và chắc chắn không phải là một bức thư vui. Hai tháng trước đang còn là mặt trận, nước Balan, con sông Vixoa êm đềm và rộng. Thực kỳ quặc! Và cũng thực là thú vị!
 
Xe đã đi qua đồi. Ông lão rẽ ngang vào một phố. Những đám mây đen có chỗ đã tản ra và trong cái đen tối trên đầu, đây đó lấp lánh một vì sao. Ngôi sao vụt ánh lên trong những vũng nước rồi lại tắt ngấm.
 
Xe dừng lại bên một ngôi nhà có chòi ở giữa.
 
- Đến rồi! - Ông lão đánh xe nói. - Chuông ở cổng phía bên phải.
 
Kuzmin sờ soạng tìm thấy nắm chuông gỗ và kéo xuống nhưng chàng không nghe thấy chuông kêu, chỉ có tiếng rin rít của sợi dây thép gỉ.
 
- Ông cứ giật mạnh vào !
 
Kuzmin làm theo. Ở sân trong sau nhà, quả chuông con lúc lắc. Nhưng trong nhà vẫn yên lặng như tờ, chắc chưa ai thức dậy.
 
- Ô... ô... ô...! - Ông lão ngáp. - Đêm mưa thế này người ta ngủ say bằng chết.
 
Kuzmin đợi một lát rồi giật mạnh hơn. Ở phòng lát gỗ có tiếng chân vẳng ra. Có người nào đến bên cửa sổ, dừng lại nghe ngóng rồi bực dọc hỏi:
 
- Ai vậy ? Muốn gì ?
 
Kuzmin định trả lời, nhưng ông lão đã nói trước.
 
- Mở cửa ra, Macfa. - Ông lão nói. - Có người ở mặt trận về gặp chị Onga.
 
- Ai ở mặt trận về ? - Giọng nói sau cửa vẫn chẳng dịu dàng hơn trước chút nào. - Chúng tôi chẳng đợi ai cả.
 
- Không đợi, thế mà lại gặp đấy!
 
Cánh cửa hé mở. Trong bóng tối Kuzmin nói chàng là ai và vì sao chàng tới.
 
- Trời ! - Người đàn bà đứng sau cửa sợ hãi kêu lên. - Ông rõ vất vả ! Tôi mở cửa ngay bây giờ. Chị Onga đang ngủ. Mời ông vào, tôi sẽ đánh thức chị ấy dậy.
 
Cửa mở, Kuzmin bước vào phòng treo áo tối mò.
 
- Ở đây có bậc. – Người đàn bà dặn, giọng nói đổi hẳn, dịu dàng. - Đêm hôm thế này mà ông cất công đến ! Ông đợi cho một chút kẻo vấp. Tôi châm đèn ngay bây giờ, ở đây đêm mất điện.
 
Bà ta đi, còn Kuzmin ở lại phòng treo áo. Từ các phòng bay ra mùi trà và một mùi gì đó nữa, êm ái. Một con mèo bước ra, cọ mình vào chân Kuzmin, nó kêu gừ gừ rồi trở vào căn phòng tối như muốn mời Kuzmin đi theo mình. Đằng sau cánh cửa hé mở hắt ra một ánh sáng run rẩy yếu ớt.
 
- Mời ông.
 
Người đàn bà nói.
 
Kuzmin bước vào. Người đàn bà cúi chào chàng. Đó là một bà lão tầm vóc cao, mặt hơi đen. Kuzmin cố giữ cho khỏi gây ra tiếng động, bước đi gần như rón rén.
 
- Ông đừng ngại, đằng nào cũng phải đánh thức chị ấy. Bà lão mỉm cười.
 
Kuzmin khe khẽ hỏi:
 
- Ở đây có nghe rõ còi tàu ngoài biển không cụ ?
 
- Nghe rõ ông ạ ! Rõ lắm ! Cứ như tàu nọ nghe tàu kia thôi ! Ông ngồi xuống đi.
 
Bà lão ra, Kuzmin ngồi xuống chiếc đi văng tựa gỗ.
 
Chàng do dự khi móc túi lấy thuốc hút. Chàng bối rối và nỗi bối rối khó hiểu ấy làm chàng tức giận. Cái cảm giác bao giờ cũng có khi ta ban đêm vào nhà người khác, bước vào một cuộc sống không phải là của ta, đầy bí mật và những điều khó hiểu, xâm chiếm tâm hồn chàng. Cuộc sống ấy giống như một cuốn sách bỏ quên trên bàn ở trang sáu mươi lăm nào đó. Kuzmin nhìn vào trang giấy ấy và cố đoán xem cuốn sách nói về chuyện gì, có gì bên trong ?
 
Ở trên bàn có một cuốn sách ngỏ thực. Kuzmin đứng dậy cúi xuống và vừa lắng nghe tiếng thì thào vội vã bên kia cánh cửa và tiếng áo phụ nữ sột soạt, vừa đọc thầm những dòng chữ chàng quên bẵng từ lâu :
 
“Cái không thể đã thành có thể 
 
Con đường dài hóa dễ với ta .
 
Nhọc nhằn chi mấy cũng qua
 
Cuối đường tìm kiếm khi ta thấy nàng .”
 
Kuzmin ngẩng đầu lên, nhìn quanh . Căn phòng thấp và ấm áp một lần nữa lại làm chàng muốn ở lại tỉnh lỵ này.
 
Căn phòng với ngọn đèn treo trên bàn ăn, chụp đèn trắng đục, đôi sừng tuần lộc đóng trên bức tranh vẽ con chó bên giường bệnh một em bé gái, có một thứ ấm cúng đặc biệt vô tả. Những căn phòng như thế bao giờ cũng làm ta phải mỉm cười bởi mọi vật ở đó đều cổ lỗ, từ lâu ta đã lãng quên.
 
Mọi vật chung quanh, đến cái gạt tàn bằng vỏ ốc màu hồng đều chứng tỏ một cuộc sống dài và bình thường làm cho Kuzmin lại nghĩ rằng giá chàng được ở lại đây và sống như những người chủ ngôi nhà cũ kỹ này đã sống một cuộc sống không vội vã, làm rồi nghỉ ngơi, xuân rồi lại đông và những ngày nắng ngày mưa xen kẽ…
 
Nhưng bên cạnh các đồ vật cũ kỹ, trong phòng còn có những thứ khác. Trên bàn cắm một bó hoa đồng nội: hoa cúc, hoa phế hình, hoa thanh lung trà dại. Hoa chắc vừa mới hái. Chiếc kéo và những cành hoa bị cắt bỏ nằm trên khăn bàn.
 
Và bên cạnh là tập thơ “Con đường dài hóa dễ với ta” để ngỏ của Blôck . Chiếc mũ phụ nữ nhỏ nhắn màu đen đặt bên cuốn sách bìa nhung lam đặt trên mặt đàn dương cầm. Cái mũ hoàn toàn không cổ chút nào, rất hợp thời trang. Một chiếc đồng hồ con, dây mạ kền vứt cẩu thả trên bàn. Đồng hồ chạy rất êm, kim đồng hồ chỉ một giờ rưỡi… Mùi nước hoa bao giờ cũng phảng phất buồn, nhất là trong đêm khuya khoắt như đêm nay.
 
Một cánh cửa kính để mở. Bên ngoài cánh cửa, đằng sau những chậu thu hải đường, một bụi tử đinh hương ướt nước mưa lấp lánh dưới ánh sáng yếu ớt từ trong phòng lọt ra qua cửa kính. Mưa bụi thì thào trong bóng tối. Những giọt nước nặng hối hả đập vào lòng máng.
 
Kuzmin lắng nghe tiếng nước rơi, ý nghĩ về sự qua đi không thể nào lấy lại mỗi khoảnh khắc nhỏ nhất của thời gian, cái ý nghĩ dằn vặt con người thế kỷ này qua thế kỷ khác, đã đến với chính chàng lúc này, ban đêm, trong ngôi nhà xa lạ, và từ ngôi nhà ấy, một phút nữa thôi, chàng sẽ ra đi và không bao giờ trở lại.
 
Do tuổi già mà mình nghĩ thế hay sao ? Kuzmin nghĩ và quay lại…
 
(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 23 Feb 2019 lúc 5:55pm

BÔNG HỒNG VÀNG và BÌNH MINH MƯA

BÌNH MINH MƯA (tiếp theo)

Do tuổi già mà mình nghĩ thế hay sao ? Kuzmin nghĩ và quay lại…

Một thiếu phụ vận đồ đen đứng ở ngưỡng cửa. Thiếu phụ hẳn vì vội ra tiếp khách nên chưa chải đầu cẩn thận. Một bím tóc rơi trên vai, và thiếu phụ, mắt vẫn không rời Kuzmin bối rối mỉm cười, nâng nó lên, lấy trâm cài vào đám tóc ở gáy. Kuzmin nghiêng người chào thiếu phụ. Nàng đưa tay cho chàng và nói :
 
- Xin lỗi anh. Tôi đã làm anh phải đợi.
 
- Chị là Onga Anđrêepna ?
 
- Vâng.
 
Kuzmin nhìn thiếu phụ. Dáng trẻ trung với đôi mắt long lanh, sâu và hơi mờ của thiếu phụ làm chàng sửng sốt.
 
Kuzmin xin lỗi vì đã làm phiền, rồi móc trong túi áo, lấy bức thư của Basilốp ra đưa cho thiếu phụ. Nàng cầm lấy, cám ơn chàng và đặt bức thư lên mặt đàn dương cầm, không đọc.
 
- Kìa, chúng ta cứ đứng mãi ! - Nàng nói - Mời anh ngồi ! Anh ngồi gần bàn đây này. Ở đây sáng hơn.
 
Kuzmin ngồi xuống bên bàn và xin phép được hút thuốc.
 
- Anh cứ tự nhiên. - Nàng nói. - Tôi cũng xin được hút cùng anh.
 
Kuzmin mời nàng và đánh diêm. Khi thiếu phụ châm lửa, ánh diêm hắt lên mặt nàng và chàng thấy khuôn mặt trầm tư với vầng trán thanh sạch của nàng có vẻ quen quen đối với chàng.
 
Onga ngồi xuống, đối diện với Kuzmin. Chàng chờ đợi những câu hỏi, nhưng nàng chỉ im lặmg và nhìn ra cửa sổ, nước mưa vẫn đều đều xào xạc.
 
- Macfa ! - Onga nói và quay về phía cửa. - Bà đặt giúp tôi ấm chè.
 
- Không, không ! - Kuzmin hốt hoảng. - Tôi phải đi ngay bây giờ. Người đánh xe còn đợi ngoài phố. Tôi chỉ định chuyển bức thư cho chị và nói với chị tin tức về… anh ấy.
 
- Có gì đáng nói đâu ! - Onga trả lời, rút trong bó hoa ra một bông hoa cúc và tàn nhẫn vặt từng cánh. - Anh ấy còn sống thế là tôi mừng.
 
Kuzmin im lặng.
 
- Anh đừng đi vội. - Onga nói, bình dị như nói với một người bạn cũ. - Ở đây nghe rõ còi tàu. Chắc chắn tàu thủy chỉ chạy được trước khi trời sáng.
 
- Sao vậy ?
 
Bà Macfa từ bên buồng chõ sang:
 
- Tại ở vùng này, phía dưới Navôlôki có một con bương lớn dưới dòng sông. Đêm hôm đi qua đấy nguy hiểm lắm. Vì thế các thuyền trưởng cứ phải chờ đợi trời sáng.
 
- Đúng như vậy. - Onga xác nhận. - Từ đây ra bến đi bộ chỉ hết mười lăm phút, nếu qua lối vườn hoa. Tôi sẽ tiễn anh. Còn bác đánh xe thì anh cho về thôi. Ai chờ anh ? Có phải bác Vaxili không ?
 
- Cái đó thì tôi lại không biết. Kuzmin mỉm cười.
 
- Timôfây chở ông ấy tới đây ! - Bà lão từ cửa phòng bên báo sang. Nghe rõ cả tiếng bà lắp ống khói cho ấm xamôva kêu long xong. - Ít nhất ông cũng phải uống trà đã. Chưa chi vừa mới ở ngoài mưa vào đã lại định ra mưa. Kuzmin nhận lời. Chàng ra cửa trả tiền xe. Ông lão chưa đi vội, còn loay hoay bên con ngựa, chữa lại thắt đai.
 
Khi chàng trở vào thì bàn đã dọn. Những chiếc chén cũ màu xanh tô chỉ vàng, một bình sữa hâm nóng, mật ong và một chai rượu vang mới mở. Bà Macfa mang ấm xamôva vào.
 
Onga xin lỗi vì tiếp khách quá đạm bạc. Nàng nói đã chuẩn bị trở lại Maxcơva, nhưng hiện giờ vẫn còn tạm làm việc ở Navôlôki, tại thư viện tỉnh. Kuzmin đợi mãi xem rồi nàng có hỏi gì đến Basilốp không, nhưng nàng không hỏi. Vì thế chàng mỗi lúc một bối rối thêm. Từ khi vẫn còn nằm quân y viện chàng đã đoán giữa vợ chồng Basilốp có chuyện lủng củng. Nhưng lúc này, sau khi thấy Onga không đọc mà lại đặt thư lên bàn thì chàng tin mình đã đoán đúng. Và chàng cảm thấy như mình chưa tròn trách nhiệm đối với Basilốp và có lỗi nhiều trong chuyện đó. Chắc Onga sẽ đọc thư sau, chàng nghĩ. Nhưng chàng biết rõ một điều là bức thư mà Basilốp coi trọng, vì nó mà chàng phải tới ngôi nhà này vào một giờ bất tiện, đã không còn cần thiết và chẳng thú vị gì đối với người nhận. Thành thử Kuzmin đã không giúp gì được cho Basilốp mà còn đặt mình vào một tình thế khó xử. Onga như đoán được ý nghĩ của chàng, nàng nói:
 
- Anh đừng giận. Bưu điện có, điện tín có, không hiểu sao anh ấy lại còn phiền anh làm gì.
 
- Có phiền gì đâu ! - Kuzmin vội nói và sau khi yên lặng một lát, chàng tiếp.
 
- Ngược lại, còn rất tốt nữa là khác.
 
- Anh nói cái gì tốt kia ? Kuzmin đỏ mặt.
 
- Cái gì tốt kia ? - Onga hỏi lại, lần này nàng nói to hơn và ngước mắt nhìn Kuzmin. Nàng nhìn chàng, như cố đoán xem chàng nghĩ gì, một cách nghiêm nghị, người đưa hẳn về phía trước, chờ câu trả lòi. Nhưng Kuzmin chỉ im lặng.
 
- Anh nói đi, cái gì tốt ? Nàng hỏi lại một lần nữa.
 
- Biết nói với chị thế nào. - Kuzmin suy nghĩ, trả lời. - Đó là một câu chuyện đặc biệt. Tất cả những gì ta yêu mến thì ta lại ít gặp. Không biết người khác thế nào chứ tôi nghiệm bản thân thì đúng như vậy. Mọi điều tốt lành hầu như bao giờ cũng chỉ đi lướt bên ta. Chị hiểu ý tôi chứ ?
 
- Tôi không hiểu lắm.
 
Onga trả lời và nhíu đôi lông mày.
 
- Giải thích như thế nào để chị hiểu đây ? - Kuzmin nói. Chàng tự giận mình.
 
- Chắc là chuyện đó cũng xẩy ra cả với chị. Từ trong cửa sổ toa tàu, chị bất thần trông thấy một cánh rừng bạch dương thưa thớt với một lưới mạng nhện mùa thu ánh lên trong nắng và thế là chị muốn nhẩy ngay ra giữa lúc tàu đang chạy để được ở lại cánh rừng ấy. Nhưng con tàu cứ đi qua. Chị nhoai người ra ngoài cửa sổ và nhìn lại những cánh rừng, những bãi cỏ rộng, những con ngựa, những nẻo đường làng đang vùn vụt chạy về phía sau và chị nghe thấy một tiếng reng reng mơ hồ. Vật gì kêu, chị không biết. Có thể là rừng hay không khí, hay tiếng rít của những dây điện thoại. Mà cũng có thể đó là tiếng reo của những thanh ray khi tàu chạy. Cái đó chỉ ánh lên trong khoảnh khắc, nhưng ta chờ mãi suốt đời.
 
Kuzmin im lặng. Onga đẩy cốc vang lại phía chàng.
 
- Trong đời tôi. - Kuzmin nói và đỏ ửng mặt, chàng bao giờ cũng đỏ mặt khi phải nói về mình, - tôi vẫn hằng chờ đợi những chuyện bất ngờ và đơn giản ấy. Và nếu tôi gặp chúng, ấy là tôi hạnh phúc. Tuy chúng ngắn ngủi, nhưng tôi cũng đã từng gặp.
 
- Và bây giờ cũng vậy ư ? - Onga hỏi.
 
- Vâng !
 
Onga nhìn xuống.
 
- Vì sao ? - Nàng hỏi.
 
- Tôi không rõ. Nhưng tôi có cảm giác như vậy. Tôi bị thương trên sông Vixoa, rồi nằm quân y viện. Mọi người đều có thư từ gửi đến, riêng tôi thì không. Chẳng qua chỉ vì tôi chẳng có ai viết cho. Tôi nằm và tưởng tượng đến cuộc sống tương lai của mình sau chiến tranh như mọi người thường tưởng tượng. Tương lai ấy nhất định phải hạnh phúc và khác thường. Rồi tôi khỏi và người ta quyết định cho tôi đi nghỉ. Họ chỉ định một thành phố.
 
- Thành phố nào ? - Onga hỏi.
 
Kuzmin nói tên thành phố. Onga không nói gì.
 
- Tôi xuống tàu. - Kuzmin nói tiếp. - Làng mạc ở hai bên bờ, những bến tàu. Và cảm giác cô đơn chán ngấy. Tôi xin chị, chị đừng nghĩ rằng tôi than phiền. Trong cô đơn cũng có nhiều cái tốt. Rồi Navôlôki. Tôi sợ ngủ quên. Đêm khuya tôi ra boong tàu và suy nghĩ: thực là lạ lùng vì trong bóng tối bao la trùm kín cả nước Nga, dưới bầu trời rả rích mưa, có hàng nghìn người khác nhau đang ngủ một cách yên lành. Rồi tôi đi xe ngựa đến đây và cứ đoán mãi: người tôi sẽ gặp là ai?…
 
- Nhưng điều gì làm anh hạnh phúc kia chứ ? Onga hỏi.
 
- Không... - Kuzmin sực tỉnh. - Nói chung là tốt. Anh im lặng.
 
- Kìa anh ? Nói đi chứ !
 
- Nói gì kia ? Tôi nói thế đã nhiều lời lắm, tôi đã nói những điều không đáng nói.
 
- Anh cứ nói hết. - Onga trả lời. Nàng như không nghe rõ những từ cuối cùng trong câu nói của chàng. - Nói tất cả những gì anh muốn. - Nàng nói thêm. - Dù cho điều đó có hơi kỳ quặc đi chăng nữa.
 
Nàng đứng dậy đến bên cửa sổ, gạt chiếc rèm sang một bên. Mưa vẫn không ngớt.
 
- Chị nói cái gì kỳ quặc kia ? Kuzmin hỏi.
 
- Mưa vẫn rơi ! - Onga nói và quay lại. - Đấy, cuộc gặp gỡ như thế này. Và tất cả câu chuyện đêm khuya giữa chúng ta. Cái đó chẳng kỳ quặc hay sao ?
 
Kuzmin bối rối im lặng . Trong bóng tối ẩm ướt bên ngoài cửa sổ, ở một nơi nào đó dưới chân đồi, con tàu đột nhiên rúc lên tiếng còi...
 
(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 25 Feb 2019 lúc 6:05pm

BÔNG HỒNG VÀNG và BÌNH MINH MƯA

BÌNH MINH MƯA (tiếp theo)

- Thôi ! - Onga nói như trút được gánh nặng.

- Còi rồi ! Kuzmin đứng dậy. Onga vẫn không nhúc nhích.
 
- Gượm đã, - nàng nói, bình tĩnh. - Chúng ta ngồi với nhau một lát trước khi anh lên đường. Như tục cũ ngày xưa.
 
Kuzmin lại ngồi xuống. Onga cũng ngồi xuống, suy nghĩ và quay mặt đi, không nhìn Kuzmin. Chàng đưa mắt nhìn đôi vai nàng nhô lên, nhìn những bím tóc dày búi sau gáy, đường cong thanh tao nơi cổ nàng và nghĩ rằng nếu không có Basilốp thì chàng sẽ chẳng rời bỏ cái tỉnh lỵ này mà đi đâu hết. Chàng sẽ ở đây cho đến hết hạn nghỉ phép và sẽ sống, bồi hồi biết rằng bên cạnh chàng có người thiếu phụ đáng yêu và rất buồn bã giờ đây.
 
Onga đứng dậy. Trong phòng áo chật hẹp, Kuzmin giúp nàng khoác áo mưa. Onga lấy khăn, choàng lên đầu.
 
Hai người ra khỏi nhà, im lặng đi bên nhau trên đường phố tối.
 
- Trời sắp sáng. - Onga nói.
 
Bầu trời sũng nước đã rạng xanh bên kia sông, Kuzmin thấy Onga rùng mình.
 
- Chị lạnh à ? - Chàng lo lắng. - Chị tiễn tôi thật vô ích. Tự tôi, tôi cũng có thể tìm được đường ra bến.
 
- Không, không vô ích đâu. Onga trả lời ngắn ngủi.
 
Mưa đã qua nhưng những giọt nước vẫn từ trên mái nhà rơi lộp độp xuống hè phố lát gỗ.
 
Vườn hoa kéo dài tới tận cuối phố. Cổng mở. Liền sau cổng là những con đường rậm rạp, bỏ hoang, không người chăm sóc. Trong vườn có mùi lá ướt, hơi lạnh của đêm khuya. Đó là một khu vườn cũ, đen ngòm những cây bồ đề cao lớn. Chúng đã rụng hết hoa và đã hơi yếu ớt. Chỉ mỗi một lần gió ào ào kéo qua là cả khu vườn xao động tưởng chừng như có một trận mưa rào nặng hạt vừa đổ xuống rồi lại tạnh ngay.
 
Cuối vườn là bờ sông dựng đứng trên mặt nước và bên kia là những chân trời trước rạng đông ướt sũng nước mưa, ánh phù tiêu mờ mờ phía dưới, sương mù, tất cả nỗi buồn những ngày mưa mùa hạ.
 
- Ta xuống thế nào đây ? Kuzmin hỏi.
 
- Anh lại đây.
 
Onga rẽ theo con đường thẳng tuột tới bờ sông dựng đứng, đứng bên cầu thang gỗ bắc xuống dưới và mất hút trong bóng tối.
 
- Anh đưa tay đây. - Onga nói. - Chỗ này có nhiều bậc thang mục. Kuzmin đưa tay cho nàng và hai người thận trọng lần xuống. Giữa những bậc thang là cỏ ớt nước mưa.
 
Bậc bục gỗ cuối cùng, họ dừng lại. Đã trông rõ bến, những ngọn đèn xanh đỏ của con tàu. Hơi nước rít lên. Tim Kuzmin se lại, chàng nghĩ rằng, ngay bây giờ thôi, chàng sẽ phải chia tay với người thiếu phụ không quen biết nhưng lại gần gũi biết bao, chia tay với nàng mà không nói được gì; không nói gì hết.
 
Cũng chẳng cám ơn nàng đã gặp chàng trên đường đời, đã đưa cho chàng bàn tay nhỏ bé, vững chãi sau lần bao tay ẩm, thận trọng dẫn chàng đi trên chiếc cầu thang ọp ẹp và cứ mỗi lần có một cành cây ướt sũng rủ xuống phía trên tay vịn có thể vướng vào mặt chàng thì nàng lại nói khẽ “Anh cúi đầu xuống”. Và chàng ngoan ngoãn vâng theo.
 
- Chúng ta chia tay nhau ở đây thôi. - Onga nói. - Tôi không đi hơn nữa đâu. Kuzmin đưa mắt nhìn nàng. Qua nếp khăn choàng, đôi mắt Onga nghiêm nghị lo lắng nhìn chàng. Có lẽ nào giờ đây, trong phút này thôi, tất cả sẽ đi vào dĩ vãng và sẽ trở thành một trong những kỷ niệm xót xa trong cả đời nàng và trong cả đời chàng?
 
Onga đưa tay cho Kuzmin. Chàng hôn tay nàng và lại thấy vẫn cái mùi nước hoa thoang thoảng mà chàng đã thấy trong căn phòng tối, giữa tiếng mưa rơi xào xạc.
 
Khi chàng ngẩng đầu lên, Onga nói một câu gì, nhưng khẽ đến nỗi chàng không nghe rõ. Chàng ngờ rằng nàng chỉ nói độc một tiếng “Vô ích…”. Có lẽ nàng còn nói điều gì nữa, nhưng con tàu dưới sông đã gầm lên, than thở vì buổi bình minh ẩm ướt, vì cuộc sống lang thang của nó trong những ngày mưa và trong những buổi sương mù.
 
Kuzmin chạy lên bờ sông, không ngoái lại. Chàng đi qua bến sông thoang thoảng mùi vỏ cây và mùi hắc ín, trèo lên tàu và bước ngay lên boong vắng tanh vắng ngắt. Con tàu bắt đầu rời bến, chân vịt quay chậm chạp.
 
Kuzmin đi lại đằng lái, nhìn về bờ sông dựng đứng, nhìn cái cầu thang: Onga vẫn đứng đấy. Trời hửng sáng và khó mà nhìn rõ ràng. Kuzmin giơ tay lên nhưng nàng không vẫy lại.
 
Con tàu mỗi lúc một đi xa, dồn vào đôi bờ cát những đợt sóng dài, làm những phù tiêu trên sóng lúc lắc và tiếng dội của những bụi miên liễu bên bờ đáp lại tiếng chân vịt vội vã của con tàu.
 
Kim Ân và Mộng Quỳnh dịch


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Feb 2019 lúc 6:11pm

KONXTANTIN PAUXTOPXKI

Konxtantin Pauxtopxki (1892-1968) là một trong những nhà văn Nga xuất sắc nhất của thế kỷ hai mươi, mang tầm vóc quốc tế .
 
Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn Nga, Pauxtopxki đã làm cho bạn đọc và giới phê bình chú ý, bởi một giọng văn hết sức độc đáo, giàu chất thơ đến mức nồng nàn, càng đọc càng thấm thía sâu xa về cuộc đời, về những nét rung động tinh tế nhất của tâm hồn trước tình người đôn hậu, trước thiên nhiên Nga bình dị mà tráng lệ và vô cùng quyến rũ…
 
Tác phẩm của Pauxtốpxki có mãnh lực quyến rũ bạn đọc đến với những điều tưởng chừng nhỏ nhặt mà ẩn giấu bao ý nghĩa lớn lao của cuộc đời. Người ta thường gọi ông là nhà thơ bị đóng đinh trên cây thánh giá của văn xuôi. Văn của ông là tiếng nói tâm hồn nồng cháy đến mức tột cùng đối với Tổ quốc Nga .
 
Pauxtopxki cũng là một trong những nhà văn Nga suốt đời không gia nhập Đảng Cộng sản . Ông đã từng được đề cử trao giải thưởng Nobel văn học năm 1965 . Nhưng vì sự phản đối và can thiệp mạnh mẽ của chính phủ Liên Xô, nên năm đó giải thưởng Nobel văn học đã thuộc về nhà văn Nga Solokhop là một Đảng viên Cộng sản, với tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm”.
 
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 03 Mar 2019 lúc 6:07pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 7 : VỊ ĐẠO SĨ CÓ THỂ CHỮA MỌI THỨ BỆNH

Ram Gopal im lặng như suy nghĩ một điều gì, sau cùng ông lên tiếng :
– Vì biết rằng của cải, vật chất là nguồn gốc của tội lỗi, cám dỗ nên tại đạo viện này mọi người chỉ được giữ một bộ quần áo trên mình và phải đoạn tuyệt với vật chất hoàn toàn. Còn lo giữ của tức là còn lo mất, quyến luyến vật chất như vậy thì làm sao giải thoát được. Giữ tiền bạc, của cải hay danh vọng có thể ví như đeo gông vào người, rồi nhẩy xuống sông, chắc chắn sẽ chìm chứ làm sao bơi lội cho được, phải thế không các bạn ?

Giaó sư Mortimer lên tiếng :
– Ông nói cũng có lý nhưng không hẳn tôn giáo nào cũng lánh xa của cải, vật chất. Đôi lúc họ cần những thứ này để làm các công việc như mua thực phẩm, xây cất thánh đường, v..v.. Tiền bạc có công dụng riêng của nó.

Ram Gopal gật đầu :
– Sử dụng tiền bạc đúng cách là một vấn đề, còn để nó cám dỗ lại là một vấn đề khác. Chính đức Jesus đã dạy :“Kẻ giàu có tu hành chẳng khác con lạc đà chui qua lỗ kim. Một người không thể thờ hai vua, ngươi thờ Chúa hay thờ tiền bạc ?”. Một người tu hành chân chính không thể nô lệ bạc tiền dưới bất cứ hình thức nào. Các ông chắc thắc mắc tại sao tôi cương quyết chủ trương tuyệt sở hữu ?

Gặp nhau hôm nay cũng là một nhân duyên, tôi xin kể một câu chuyện để các ông hiểu tại sao con đường tu hành cho rằng tiền bạc, vật chất là trở lực lớn cho người tu. Câu chuyện như sau :“Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một đạo sư. Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa nên dặn học trò ở lại chăm lo tu hành.

Học trò nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ, Vì nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc mỗi một miếng khố che thân. Nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác. Dân làng thấy vậy, bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột. Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa, nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn.

Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo. Một tín đồ thấy vậy bèn tình nguyện dâng cúng tu sĩ một con bò cái để có sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con bò nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho bò ăn. Do đó, ngoài thức ăn khất thực, tu sĩ lại phải đi xin rơm về nuôi bò.

Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng trọt, nuôi bò. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, bò ăn không hết, phải mang bán ngoài chợ. Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể, phải gọi người đến làng giúp. Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng gì cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú.

Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp đẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại, nhưng thời gian tu hành không còn là bao vì tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa, rồi có tiền bạc phải lo đầu tư, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa…

Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán. Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ ôn tồn hỏi tại sao lại có sự thay đổi như thế. Tu sĩ trả lời :”Thưa thầy, thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi bò, và để có rau nuôi bò, con phải canh tác.

Rồi thì trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp, rồi thì buôn bán thành công, tiền bạc nhiều thêm, con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con còn mướn người lo việc cúng tế, nhang đèn cẩn thận”.

Sư phụ thở dài :”Xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp, chỉ gây trở ngại cho việc thanh tu. Chỉ vì một cái khố rách mà con đã đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đã chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đã đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ đó rồi làm sao có thể thoát được ?’ ”

Ram Gopal yên lặng như đắm chìm vào quá khứ, một lúc sau ông nói thật khẻ :
– Các ông thấy câu chuyện thật khôi hài phải không ? Nhưng đó là chuyện thật, vì tôi chính là vị tu sĩ trẻ đó. Sau khi nghe thầy nói xong, tôi tỉnh ngộ, và hiểu con đường tu hành giải thoát chân chính là thế nào. Tôi lập tức rời bỏ tất cả để theo thầy lên núi Tuyết Sơn học đạo.

Suốt mấy chục năm tu hành tinh tấn, sư phụ mới sai tôi đến đây thành lập đạo viện này để chữa bệnh và chỉ dạy đệ tử phương pháp tu thân. Vì kinh nghiệm quá khứ, tôi cương quyết chủ trương kẻ đã tu hành phải tuyệt sở hữu và lúc nào cũng phải tự mình kiểm thảo hàng giờ, hàng phút vì sai một ly là đi một dặm.

Mọi người ngồi yên tưởng tượng ra cảnh một đạo sĩ trẻ tuổi trước sự cám dỗ của thành công vật chất. Giáo sư Mortimer lên tiếng :
– Theo ông thì ngoài vấn đề vật chất, người tu còn gặp những khó khăn gì nữa ? Từ bỏ vật chất có đem lại giải thoát không ?

– Bất cứ một sự cởi bỏ nào cũng làm nhẹ gánh, vật chất là một nô bộc tốt nhưng là một chủ nhân rất xấu. Nhiều người tu vô tình quá chú trọng đến tiền bạc mà quên rằng đồng tiền có hai mặt. Nhiều người cho rằng sử dụng vật chất là để phát huy tôn giáo, giúp đỡ các tín đồ có nơi tu học. Dĩ nhiên, mục đích rất tốt đẹp, nhưng nếu quá chú trọng vào hình thức sẽ đưa đến sự xao lãng vấn đề tinh thần.

Một tu sĩ cần phải ý thức rằng mình vẫn là kẻ đang đi trên đường, đang cố gắng tìm kiếm chân lý hầu được giải thoát, chứ chưa đi trọn con đường, thì đừng đòi làm những việc to lớn ! Họ chỉ nên làm việc một cách nhiệt thành nhưng không nên làm nô lệ cho những công việc này.

Một trở ngại lớn trên đường đạo là sự thiếu nhiệt thành, đa số chúng ta đều quen buông lung, do dự, không đủ cương quyết nên sẽ phải trải qua những kinh nghiệm chua cay, khổ sở để học hỏi các bài học quý giá này. Tất cả chúng ta vẫn đồng ý rằng cuộc đời là ảo mộng, phù du, vô thường, gỉả tạo…, chỉ có con đường tu hành mới là giải thoát, thế nhưng tại sao chúng ta vẫn chạy theo vật chất, chả chịu tu tâm dưỡng tánh ?

Giaó sư Mortimer phản đối :
– Người tu hành và kẻ thường khác nhau nhiều, chúng tôi còn phải lo sinh kế, kiếm ăn…

Ram Gopal mỉm cười :
– Một ngày có 24 giờ, có lý nào vì sinh kế mà các ông phải dành trọn để lo việc kiếm ăn. Tại đạo viện này, mọi người chỉ bỏ ra một giờ để trồng trọt các thực phẩm thì vẫn đủ kia mà. Ta dư ăn thì lại muốn ăn ngon, đủ sống thì lại muốn sống cho sang giàu, được giàu sang lại muốn giàu hơn nữa. Rồi ta lại nguỵ biện rằng phải lo kiếm ăn, sinh kế có phải thế không ? Người Âu Mỹ hoạt động không ngừng, coi sự làm việc là nguồn vui, do đó mới sinh lắm bệnh tật, phiền não, thần kinh suy nhược, vì nhu cầu tâm linh không thoả mãn. Tại sao ta không hoạt động như thế cho nhu cầu tâm linh?

– Người Âu không thể chấp nhận vấn đề làm việc cho một cái gì mơ hồ, cho một viễn ảnh tâm linh không thực tế.

Ram Gopal lắc đầu :
– Khi nào đời sống vật chất trở nên cực kỳ phức tạp, phiền não thì con người sẽ ý thức đến vấn đề tâm linh. Đã có nhiều vị tiểu vương, triệu phú từ bỏ tất cả tài sản để vào đây tu hành khi mạng sống của họ bị đe doạ bởi bệnh tật, vì họ biết không thể ôm lấy tài sản rồi chết. Sau khi từ bỏ tất cả, đầu óc thoải mái thanh thản, họ lại thấy việc trau dồi tâm linh là quý, thế là họ phát nguyện tu hành, sống một cuộc đời trong sạch, ung dung, tự tại.

Nếu chỉ là miếng ăn thì chỉ cần làm việc khoảng một giờ là đủ rồi, nhưng vì không biết an phận nên mới có các trói buộc vào vật chất, không lối thoát. Các ông cho rằng tu hành chỉ cần ăn mặc đẹp đẽ, đi đến các đền thờ dâng cúng phẩm vật, tiền bạc, đọc vài câu kinh là đã đủ hay sao ? Những cái đó chỉ là hình tướng bên ngoài, không có nghĩa chi hết. Ngay cả việc trở nên môt tu sĩ mà không chịu tu thân, trau dồi tâm linh cũng vô ích thôi vì các phiền muộn đau khổ vẫn còn kia mà.

– Như thế thì thế nào mới là tu hành thật sự ?

– Bước vào con đường đạo là tự sửa mình, thấy gì ác không làm, thấy gì thiện thì nhất định làm cho đến cùng. Luôn luôn tự giác, kiểm thảo lấy mình và quan sát, học hỏi không ngừng. Nếu các ông buôn bán, thấy có lợi các ông có dồn sức ra buôn bán nữa không ? Dĩ nhiên là có, thì việc tu hành cũng thế, tại sao ta không lo cho nhu cầu tinh thần như ta đã lo cho vật chất? Tại sao ta lại cứ hứa hẹn nay mai sẽ sửa tánh, tu thân như người khất nợ vậy ?

Tu hành không phải việc chơi mà làm một cách cẩu thả. Đó là một quyết định quan trọng vô cùng. Đừng nghĩ bộ áo có thể làm nên nhà tu, đừng nghĩ mình sẽ được một đấng nào giúp đỡ, đó là một sự hiểu lầm tai hại. Đa số các tín đồ đều mong chờ sự gíup đỡ của đấng mình tôn thờ. Họ cho rằng thuộc lòng các câu kinh, thi hành vài nghi lễ, dâng cúng các phẩm vật là đã làm tròn bổn phận và sẽ được cứu rỗi. Nếu điều này đúng thì các bậc vua chúa đã lên thiên đàng hết cả vì họ dâng cúng nhiều hơn mọi người kia mà.

Tu hành đòi hỏi sự tận tâm, tận lực cải thiện con người của mình để xứng đáng là con của thượng đế, chứ không phải dựa vào vài hình thức bên ngoài. Đa số tín đồ coi việc tu như đi xe buýt, muốn đến đâu chỉ việc mua vé rồi leo lên xe ngồi, ngắm cảnh vật hai bên đường, ung dung cho tài xế lái, khi đến nơi, là họ xuống xe không chút mệt nhọc gì hết.

Tu hành chân chính là tự mình cất bước. Thiên đàng không phải nơi mà ta có thể mua vé đến, cũng không thể mong dâng cúng vài thứ mà được các vị thần linh che chở. Giải thoát chỉ đến với sự tinh tấn riêng của từng người . Khi hiểu như thế ta cần lập tức lên đường không chậm trễ. Hãy lấy niềm tin làm bạn đồng hành, tận dụng các cơ hội sẵn có để sửa mình hầu giải thoát cho chính mình.

Con đường tu có trăm nẻo đi, không nẻo nào giống nẻo nào nhưng tất cả đều đưa đến mục đích. Sự chọn lựa con đường hoàn toàn do cá nhân nhưng họ cần suy gẫm cẩn thận để khỏi lầm đường, lạc nẻo. Tu hành chân chính dựa trên căn bản “tự biết mình”, vì trên đường đạo không có vấn đề vinh hay nhục, mà chỉ có sự tiến bộ. Do đó, người tu phải dẹp bỏ tự ái, ngã mạn, mặc cảm, không hổ thẹn, ngã lòng để tinh tấn tiến bước.

Nếu sa ngã lại đứng dậy và tiếp tục, lúc nào cũng định hướng không để cho lầm đường lạc lối. Những kẻ tự cao, tự đại không chịu tu thân sửa mình, thật đáng thương vì họ giống như người bệnh sắp chết, mà không chịu uống thuốc xả ly, dứt bỏ cho khỏi bệnh.

Ram Gopal ngừng nói, chiều xuống đã lâu chỉ còn vài tia nắng vương vấn trên thân thể cực kỳ lực lưỡng của vị đạo sĩ xứ Ấn. Phái đoàn yên lặng bái phục sự giải thích chân lý thật giản dị, khiêm tốn của người mà dân chúng coi là “vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh”.


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 05 Mar 2019 lúc 6:04pm

LẦN CUỐI GẶP MẸ
(Hồi ký của PAUSTOVSKI)

Phải mất nhiều ngày tôi mới đi được từ Tbilisi về đến Kiev. Tàu tới nơi vào buổi chiều. Đang giữa mùa xuân. Dẻ hương nở hoa. Trên những mái vòm của nhà thờ Vladimir vẫn còn lấp loáng ánh nắng. Đại lộ Cresatic ồn ào, náo nhiệt. Có thể chính vì thế tôi cảm thấy gian phòng của mẹ tôi và em Galia càng như trống trải, nhờ nhạt hơn.

Đã hai năm trôi qua kể từ ngày tôi rời Kiev đến Odessa và sau đó là Tbilisi. Trong khoảng thời gian đó mẹ tôi và em Galia đã già đi và cũng trở nên điềm tĩnh hơn.

Mỗi khi có điều kiện tôi đều gửi tiền về cho mẹ tôi, song tôi luôn luôn dằn vặt mình vì tôi có quá ít tiền và vì thế những món quà nhỏ đến tay mẹ tôi không đều đặn. Nhưng mẹ tôi chẳng hề than thở, trách móc. Bà là một người biết nhẫn nhục chịu đựng.

Tôi đưa mắt bao quát gian phòng. Những bức tường đã ngả màu vàng hệt như trong bệnh viện. Đồ đạc nghèo nàn: hai cái giường sắt cũ gỉ, một cái tủ đứng già nua ọp ẹp, cái bàn ăn ba cái ghế long mộng, một tấm gương treo. Mọi vật đều ngả màu xám tựa như đã phủ bụi. Nhưng không phải là bụi đâu. Màu xám ấy là do các đồ vật đã quá già nua, cũ kỹ, thêm vào đó lại thường bị lau chùi quá nhiều.

Galia hướng về phía cửa sổ, nơi ánh nắng chiếu vào, mỉm cười:
- Anh biết không, em và mẹ còn chữa được nhiều thứ nữa kia.

Tôi còn chưa kịp hỏi riêng mẹ tôi xem đôi mắt Galia dạo này ra sao, nhưng nhìn em tôi hiểu ngay rằng em đã bị mù, hoàn toàn mù hẳn rồi. Mẹ tôi ra hiệu cho tôi bằng ánh mắt hướng về phía Galia rồi vội lấy từ ống tay chiếc áo len cũ ra một cái vuông khăn và chấm lên mắt.

- Mẹ ơi! – Galia hỏi, giọng sợ hãi – Mẹ làm sao thế? Mẹ khóc đấy à?

- Ừ, mẹ khóc vì vui thôi – Mẹ tôi đáp, giọng nghẹn ngào – Costic đã về, một lần nữa ba mẹ con ta lại được đoàn tụ. Mẹ và con chẳng phải lủi thủi với nhau.

- Anh Costic đã về – Galia nhắc lại chậm rãi – Anh ấy đã về… Anh tôi đấy! - Galia nói, giọng không chắc chắn lắm, dường như em đang giới thiệu tôi với một người nào đó – Đúng, anh tôi đấy mà! Rồi em bỗng lặng ngắt.

- Costic, anh biết không, em và mẹ tranh cãi với nhau rất lâu xem mấy bức tường trong phòng nhà mình quét vôi màu gì? Màu da cam. Đúng là màu ấy rất đẹp phải không anh?

- Rất đẹp! – Tôi đáp, mắt ngước nhìn mấy bức tường: chúng được quét bằng thứ vôi vàng rẻ tiền.

- Mẹ nói vào những hôm trời u ám, trong gian phòng của mẹ con ta vẫn có ánh nắng chiếu vào, đúng thế không anh?

- Đúng thế đấy! –Tôi đáp – Tường quét vôi màu sáng nom rất vui mắt. Mẹ và em tìm đâu ra màu vôi này?

- Em không nhìn thấy gì cả – Galia nói rồi mỉm cười, không phải cười với tôi mà như với ai đó, nhưng em cảm thấy từ bức tường toát ra một cái gì đấy rất ấm áp, dễ chịu.

Em chậm rãi bước về phía tôi, tay vịn vào cái bàn ăn thô kệch. Tôi đứng lên đón em. Galia nắm lấy những ngón tay tôi, lần theo cánh tay lên vai lên má tôi.

- Ôi, anh để râu lởm chởm như thế này à? – Galia nói và cất tiếng cười
– Tay em rất tinh nhạy nhé! Bây giờ em không còn làm vải hoa nữa. Em không nhìn thấy gì nữa rồi mà. Bây giờ bà đan len bên hàng xóm thuê em cuốn len thành cuộn. Cứ mỗi cuộn bà ấy trả hai rúp.

- Khi em con cuốn len – Mẹ tôi nói – mẹ đọc sách cho nó nghe. Costic, bây giờ thì con đã hiểu mẹ và em Galia sống như thế nào rồi chứ?

- Vâng , con hiểu – Tôi đáp, cố nén sự xúc động – Con hiểu!

- Mẹ bán đi mọi thứ thừa không cần thiết…

- Bán ở chợ ấy! - Galia nói thêm - Ví như cái ấm samova thì có ích gì nào? Hoặc những cuốn album bìa bọc nhung với những bức ảnh của bà con họ hàng. Nhà mình có bốn cuốn cả thảy. Chúng nằm mục trong trong kho chứa đồ.

- Mẹ giữ lại tất cả các tấm ảnh - Mẹ tôi nói thêm như biện hộ.

- Mẹ may đấy! – Galia nói – Mẹ tưởng rằng bây giờ không ai còn thiết mua những cuốn album ấy nữa.

Tôi khoác tay em Galia, đưa em qua phòng Amalia ra ban công. Từ nơi đây nhìn thẳng ra vườn. Thỉnh thoảng, một chuyến tàu điện rung chuông leng keng trườn đi trên phố Bibikovsky. Trên quảng trường nhà thờ Vladimir có mọc cao giữa những hòn đá cuội.

Chiều xuống. Hoàng hôn lấp đầy trên các ô cửa kính đổ tràn ra đường phố.

- Costic! – Galia hỏi – Có đúng là anh được in một số truyện ngắn phải không?

- Sao em biết?

- Có một bận Ginda, chị của Emma Smukler ghé qua nhà ta. Chính chị ấy đã bảo cho em biết anh được in truyện. Tại sao anh không gửi cho mẹ và em?

- Anh có mang theo đây!

- Nghe em nhé! - Galia nói đầy bí mật – Anh hãy đặt những truyện đó ở giường của mẹ, dưới gối ấy, còn anh thì đừng nói gì trước với mẹ cả. Anh biết không, bây giờ mẹ chỉ còn một mong ước duy nhất là anh sẽ trở thành một nhà văn thực sự. Cách đây không lâu mẹ có nói về anh, rằng nếu anh làm được một điều gì tốt, dù không lớn cho mọi người thì việc làm của anh sẽ chuộc lại, mẹ nói là chuộc lại tất cả mọi lỗi lầm của bố.

Tôi làm theo lời khuyên của em Galia: Buổi tối tôi đặt dưới gối của mẹ ba truyện ngắn của tôi được cắt ra từ những tờ báo đã in. Trong lúc ấy mẹ tôi vẫn đang bận bịu dưới bếp.

Như một cậu bé cả thẹn, tôi lặng lẽ bỏ ra phố. Dạo gót lang thang trên những dãy phố, tôi luôn đoán xem mẹ tôi đã đọc những truyện ngắn ấy chưa. Cuối cùng, không chịu nổi, tôi quay về nhà.

Mẹ tôi ra mở cửa. Bà ôm đầu tôi trong vòng tay, hôn lên trán. Cặp mắt của bà lóng lánh nước.

- Nếu con biết rằng mẹ vừa đọc xong những truyện ngắn như thế nào. Cám ơn con, Costic, thay mặt cả nhà, mẹ cám ơn con. Thay mặt cha con, các anh con và cả em Galia tội nghiệp của con.

Mẹ tôi không nói thêm được nữa. Bà ngồi xuống cái ghế đẩu ngoài phòng.
- Mang cho mẹ nước! - Mẹ tôi khẩn khoản.

Từ bếp, tôi mang cho mẹ tôi một cốc nước.
- Con trai tôi đây! – Mẹ tôi như nói thầm, tay vuốt ve bàn tay tôi – Thằng Costic của tôi…

- Mẹ, mẹ! – Tôi nói, cố an ủi mẹ – Con sẽ ở lại đây với mẹ, với em!

- Không được! – Mẹ tôi đáp cứng cỏi – Con hãy đi theo con đường của con. Chỉ có điều, liệu đấy, đừng có quên mẹ và em!

Đột nhiên mẹ tôi co rúm người lại nức nở. Tôi ôm mẹ áp sát vào người mình.

- Nếu cha con còn sống! – Mẹ tôi vừa nuốt nước mắt vừa nói – Nếu cha con còn sống ông ấy sẽ sung sướng đến nhường nào! Cha con là một người tuyệt vời! Costic ạ! Một người tuyệt vời nhất trên đời này! Mẹ đã tha thứ cho cha con tất cả. Và con nữa, con cũng hãy tha thứ cho ông ấy! Mẹ biết con đã trải qua một thời trai trẻ thật nặng nề. Bây giờ nếu mẹ có chết, con hãy mang em Galia theo con…

Tôi đã hứa với mẹ điều đó, nhưng rồi mọi việc xảy ra không như ý mẹ tôi mong muốn. Mẹ tôi không kịp nhìn thấy cuốn sách đầu tiên của tôi. Cuộc sống đã thật bất công với mẹ và em Galia…

Mùa hè năm ấy, tôi tới Ponti Konkhida chuẩn bị viết một cuốn sách về vùng ôn đới. Tại Ponti, tôi mắc chứng sốt phát ban “màu xanh” quỷ quái gì đó, phải nằm viện và chống chọi khá lâu với thần chết.

Đúng thời gian ấy, mẹ tôi qua đời tại Kiev vì chứng sưng phổi. Một tuần sau, em gái Galia cũng qua đời. Thiếu mẹ tôi, em không thể sống thêm dù chỉ vài ngày. Vì sao em Galia chết? Không ai biết. Cũng chẳng làm sao tìm ra nguyên do được.

Amalia chôn mẹ tôi và em Galia cạnh nhau tại nghĩa trang Baikovo trong sự chật chội ghê người của những nấm mồ cũ bị lãng quên.
Thật hết sức khó khăn tôi mới tìm ra nổi ngôi mộ của mẹ tôi và em Galia giữa đám cây krapiva đã ngả vàng. Hai ngôi mộ như hòa vào nhau thành một đống đất, phía trên cắm một tấm biển bằng sắt tây cong queo với hàng chữ đề: “Maria Ghegorievna và Galia Gheorghievna Paustovsky. Nơi yên nghỉ ngàn năm”.

Tôi chẳng đọc được ngay ra hàng chữ đã phai mờ vì mưa gió này. Từ khe nứt của tấm biển sắt nhú ra một mầm cỏ nhợt nhạt, khẳng khiu. Thật đáng sợ và cũng cay nghiệt biết bao khi nghĩ đấy là tất cả những gì còn lại! Rằng chồi cỏ kia là vật trang sức duy nhất cho cuộc sống nặng nề của những người thân yêu của tôi. Rằng cái chồi cỏ kia như nụ cười của Galia, như một giọt nước mắt nhỏ bé trào ra từ đôi mắt mù của em, rịn ra ngoài chân hàng mi, giọt nước mắt nhỏ bé đến độ không một ai và không bao giờ nhận ra nó được.

Tôi còn lại trên cõi đời này một mình. Mọi người đã ra đi cả. Mẹ của tôi, người đã ban cho tôi một cuộc sống không đến nỗi vô bổ, và tình cờ người đã nằm xuống ở đây dưới mạch đất sét của thành Kiev, ở một góc nghĩa trang ngay bên cạnh đường tàu.

Ngồi bên mộ ấy, tôi cảm thấy mặt đất như giật bắn lên khi những đoàn tàu nặng nề vùn vụt chạy qua. Có thể, ở nơi kia, dưới nấm mộ, mẹ tôi vẫn đang lo lắng, bận tâm về tôi, giống như suốt đời mẹ luôn luôn bận tâm, lo lắng… Mẹ tôi luôn nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi:

- Con không giấu mẹ điều gì chứ, Costic? Đừng giấu mẹ nhé! Con cũng biết đấy, mẹ sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất để giúp đỡ con mà…

Tô Hoàng dịch


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 07 Mar 2019 lúc 6:11pm

CHUYỆN LẠ VỀ MỘT NỮ NHÂN

Ngày xưa, có cô đào họ Nguyễn đã có công giúp tiền của để chàng thư sinh nghèo Vũ Khâm Lân đỗ Tiến sĩ.

Vũ Khâm Lân, quê xã Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) là một anh học trò nghèo thông minh chăm chỉ, vì dì ghẻ độc ác hà hiếp nên phải bỏ nhà lang thang xin ăn độ nhật. Khi đến làng Dịch Vọng (Từ Liêm) xin ăn ở trường ông Hương cống thì được thương và chu cấp cho ăn học. Trong khoảng hai năm việc học đã ngày chàng tiến tới, trong trường không còn ai là đối thủ nữa.

Mùa xuân năm ấy, làng Dịch Vọng vào đám rước thần. Mấy người bạn học rủ ông đi xem hội. Trai gái cả làng đều ăn mặc đẹp, chen chúc nhau xem hát. Riêng ông thì mặc áo bông cũ bẩn, dựa cột lén xem như chỉ sợ người khác thấy mình.

Giáo phường đến hát có một cô đào hát tuổi chừng mười bảy, mười tám nhan sắc xinh đẹp, đoan trang; mỗi lần nàng cất tiếng hát thì tiền và lụa thưởng cho nàng ném đầy xuống mảnh chiếu hoa nàng ngồi hát. Lúc cô đang múa, ánh đuốc lớn ngoài sân chiếu qua góc đình, khiến cô nhìn thấy ông, chăm chú một hồi lâu, bần thần như đánh mất một vật gì, không sao hát được nữa. Người làng đang xem cho là cô bị trúng phong đột ngột, ai nấy đều không vui. Người cầm chầu phải xin dừng đêm hát. Vũ Khâm Lân cũng theo mọi người ra về. Hôm sau vào lúc xế trưa, thấy có người con gái đến thẳng chỗ ông, an ủi và tặng ông 10 quan tiền cùng các thứ đồ ăn mặc, rồi trân trọng từ biệt.

Từ đó, cứ dăm ba tháng một lần cô lại đến chỗ ông ở, may vá, nấu nướng cho ông. Lúc mới gặp cô gái, ông rất xúc động và kính trọng cô. Lâu ngày thành quen, biết cô gái yêu mình, ông bỗng dưng nảy sinh lòng tà vạy, lẻn tới chỗ cô con gái xin ngủ cùng. Cô gái nghiêm khắc cự tuyệt. Ông lấy làm hổ thẹn xin lỗi nàng, và từ đó càng thêm niềm kính yêu, trân trọng.

Hai năm sau, gặp kỳ thị Hội, ông sửa soạn về quê để đăng ký thi theo hộ tịch ở quê nhà. Cô gái đến tiễn, đưa tặng rất hậu. Lúc sắp chia tay, ông cầm tay cô gái xin được biết quê quán, họ tên để sau này biết chốn tìm nhau. Cô gái không cho ông biết gì về thân thế, gia cảnh.

Mùa thu, ông về thi ở huyện ở phủ đều đỗ đầu. Thi Hương, thi tỉnh cũng nhất. Cha ông bàn việc chuyện hôn nhân, định hỏi con nhà thế gia cho ông. Ông cố chối từ và thành thực kể lại chuyện riêng, xin được lấy người con gái ấy. Cha ông nổi giận quyết không cho lấy cô đào kia và mắng ông rất nhiều. Ông buộc phải nghe lời cha dạy.

Kỳ thi Hội năm sau, cô gái đem lễ tặng rất hậu và tới đợi Vũ Khâm Lân ở chỗ trọ tại kinh đô. Lân ngượng ngập, không biết nói gì. Cô gái nói với Lân: “Thiếp biết cả rồi, chẳng cần chàng nói. Tiền trình của chàng còn xa muôn dặm, thiếp hèn hạ không xứng hầu hạ khăn lược cho chàng. Đó là số phận của thiếp”. Từ đó ông không gặp lại cô đào trẻ đó nữa. Vũ Khâm Lân đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Bảo Thái thứ 8 (1727).

Sau ông thi đỗ, vào làm việc trong viện Hàn lâm, đi sứ phương Bắc, làm quan trong kinh ngoài trấn trải hơn mười mấy năm. Ông còn được triều đình cử đi dẹp giặc giã. Dẹp xong giặc, ông được phong là Quận công, làm việc ở Ngự sử đài, rồi thăng Tể tướng, vẻ vang hiển hách không ai bằng. Mỗi khi kể chuyện đã qua, ông lại than thở buồn rầu tự trách mình. Ông đã sai người đi tìm chỗ ở của cô gái nhưng vẫn không tìm được.

Trong một tiệc hát ở nhà người bạn đồng liêu họ Đặng, thấy có người con gái đang gieo phách giữa chiếu hoa trông giống với người con gái ngày xưa. Hỏi ra thì đúng là nàng. Dẫu cho phong trần dầu dãi mà nét kiêu sa đằm thắm cùng tiếng phách tuyệt kỹ vẫn còn như xưa.

Ông hỏi thăm về những ngày tháng đã qua của cô, thì biết mười năm trước cô lấy một viên quan võ ở trấn Thái Nguyên. Khi võ quan này chết, hai người chưa có con cái gì, nàng không biết đi đâu, chỉ còn một ít tư trang, mới lần về quê cũ. Gặp đứa em chẳng ra gì, phá tán sạch cơ nghiệp, cô đành dắt mẹ già lưu lạc trong thành Tràng An, dựa vào các nhà quyền thế, đàn hát qua ngày kiếm miếng ăn. Nghe câu chuyện của nàng, ông không sao nén nổi xót thương, bèn đón cả hai mẹ con nàng về một nơi ở riêng, chu cấp đầy đủ. Hơn một năm sau, mẹ cô mất. Ông lo chôn cất chu đáo.

Tang ma cho mẹ xong, cô gái lại từ biệt ra đi, có lẽ lại dấn thân vào chốn ca trường đầy bất trắc. Ông giữ lại không được, hậu tặng cô rất nhiều tiền bạc, cô cũng không nhận. Ông cố ép thì cô nói: “Thiếp không có phúc được làm vợ tướng công, thì những thứ tiền bạc này đâu có phúc để tiêu mà nhận.”

Rồi nàng lén bỏ ra đi. Ông cho người nhà đuổi theo mà không kịp, không rõ đi đâu. Về sau, biết nàng là người huyện Chương Đức xứ Sơn Nam (nay là huyện Chương Mỹ, Hà Tây).

Sưu tầm từ Fb Nguyễn Xuân Diện


Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 10 Mar 2019 lúc 6:09pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 8 : ĐỜI SỐNG SIÊU NHÂN LOẠI

Cuộc gặp gỡ những đạo sư đại diện cho nền minh triết cổ truyền xứ Ấn, đã làm cho phái đoàn phấn khởi, nhưng còn các bậc Chân Sư (Rishi), những vị này như thế nào ? Tại sao một vị chân sư bí mật gửi thông điệp cho các đạo sư yêu cầu giúp đỡ phái đoàn ? Đây là một dấu hỏi lớn mà mọi người hết sức thắc mắc. Liệu chúng tôi có thể gặp các bậc chân sư không ? Những vị này ở đâu ?

Giáo sư Mortimer đã hỏi giáo Kavir, và ông này cho biết có quen một đạo sĩ tu hành tên Akila Bakhtir vốn thường qua lại nhiều trong dãy Tuyết Sơn và có kiến thức rộng về những hiền triết ẩn tu nơi đây. Phái đoàn bèn tìm đến đạo sĩ này, đó là một ông lão gầy như hạc, vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười .

Giáo sư Mortimer nôn nóng :
– Theo lời truyền tụng thì ông đã có dịp tiếp xúc với các đạo sĩ Tuyết Sơn ?

Đạo sĩ xác nhận :
– Đúng thế, tôi đã có dịp gặp gỡ các bậc thánh nhân đó.

– Ông tin rằng họ là những thánh nhân ?

– Dĩ nhiên, không những tôi tin mà còn biết rõ họ là những bậc hiền giả.

– Dựa vào tiêu chuẩn nào mà ông quả quyết như vậy ? Họ có biểu diễn quyền năng hay làm gì khác người không ? Liệu có thể có những bậc siêu nhân như vậy không ?

Đạo sĩ gật đầu :
– Sự có mặt trên thế gian của những bậc thánh nhân là điều hợp lý, nếu ta tin các luật : Luân hồi, Quả báo, Tiến hoá và Nhân quả. Nếu quan sát , ta sẽ thấy con người đều có các trình độ khác nhau. Có người kém ta rất xa, có người lại hơn ta rõ rệt. Nếu nhân loại tuần tự tiến hoá thì trải qua nhiều kiếp sống, và thời gian, tất phải có những người đã tiến bộ rất xa chứ.

Theo tôi biết, đã có những người tiến xa hơn hàng ngũ nhân loại hiện nay, đã khai mở một vài giác quan thượng đẳng, quyền năng siêu việt mà ta gọi là bậc Thánh Nhân. Sự thực, các quyền năng này đều tiềm tàng trong mọi người chúng ta, chờ đợi cơ hội khai mở. Khi khai mở các quyền năng này, ta sẽ thấy rõ các nấc thang tiến hoá của nhân loại và nhận định rằng ở mỗi nấc thang đều đã có kẻ đạt đến.

Lịch sử các quốc gia đều chứa đựng công trình vĩ đại của các bậc vĩ nhân trên mọi lãnh vực hoạt động. Những người này, trong phạm vi riêng biệt của họ đã vượt xa quần chúng và tầm hiểu biết của những người đương thời. Thí dụ như các bác học, các nhà tư tưởng lớn.
Sự tiến hoá chẳng qua chỉ là biểu lộ của sự sống thiêng liêng, con người càng ngày càng trở nên tốt đẹp, tế nhị vì sự sống vô cùng cần được biểu lộ qua hình thể đó. Một bậc toàn thiện là việc tự nhiên, hợp lý do sự kết tinh đến mức tuyệt đỉnh của một con đường tiến hoá dài và liên tục.

Tất cả kinh điển mọi tôn giáo đều chứng minh sự hiện diện của các bậc siêu nhân. Mọi tôn giáo khi thành lập đều có các bậc thánh nhân xuất hiện. Người Ấn có các thần linh như : Brahman, Vishnu, Shiva hoặc các đấng cao cả như Krishna, Sancharacharya. Tín đồ Phật giáo thì có đức Thích Ca, đức Quan Thế Âm. Tín đồ Thiên chúa giáo thì có đấng Jesus, các nhà tiên tri, các bậc thánh; các bộ lạc man dã cũng có các thần linh riêng của họ…

– Xin ông giải thích rõ hơn về sự tiến hoá này ?

– Luật tiến hoá vũ trụ định rằng mọi vật đêu thay đổi theo thời gian để tiến trên những con đường định sẵn. Dĩ nhiên, đi nhanh hay chậm còn tuỳ cá nhân và hoàn cảnh chung quanh. Loài thảo mộc là kết tinh của loài kim thạch, loài cầm thú sau thảo mộc, và loài người tiếp theo loài cầm thú. Cũng như thế, loài người có một cứu cánh nhất định, một giới hạn mà khi họ vượt qua thì họ sẽ bước vào một giai đoạn mới. Nói một cách khác, trên loài người là đời sống Siêu Nhân Loại. Trong mỗi con người có ba phần chính : xác thân, linh hồn, và tinh thần. Tinh thần là điểm linh quang tiềm tàng trong mọi con người mà ta gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như Phật tính, Chân Ngã, Thần tính, v…v..

– Bằng chứng vào đâu mà ông đưa ra thuyết này ?

– Đây không phải là một giả thuyết, trong sự tu luyện, tôi ý thức được điều này. Các tôn giáo lớn cũng nói như thế. Đức Phật đã nói “Mọi chúng sinh đều có Phật tính.”. Thánh Paul định nghĩa con người gồm ba phần : xác, hồn, thần… Sự tiến hoá là sự trở về với thượng đế, trở về với con người thật của mình, phát triển Phật tính của mình trọn vẹn, để giác ngộ.

Danh từ tuy khác nhưng nội dung đều giống nhau, tôi cố gắng giải thích theo quan niệm mà người Âu có thể hiểu được, sự hợp nhất với thượng đế nghĩa là trở về với ngài vì chúng ta đều là một phần của ngài. Theo sự hiểu biết của tôi về luật tiến hoá, thì với con người, thể xác họ đã phát triển khá hoàn hảo, nhưng đa số vẫn chưa chủ trị được xác thân. Một người tiến cao là người đã chủ trị được xác thân, đặt nó dưới sự kiểm soát của lý trí và linh hồn. Một người kém tiến hoá là người còn nhiều thú tánh, chỉ lo nghĩ đến các đòi hỏi của thể xác như ăn uống, ngủ nghê, dục tính. Chính vì thế, họ sẽ gặp nhiều đau khổ để học lấy sự chủ trị xác thân.

Thế gian là một trường học mà trong đó, có yếu tố đau khổ. Sau khi chủ trị được xác thân , là việc kiềm chế thể vía. Thể vía hay tư tưỏng là điều rất khó kiểm soát, chinh phục. Ta thấy nhiều người tuy đã kiểm soát hành động của xác thân, nhưng vẫn còn để tư tưởng chạy lung tung như ngựa bất kham, không theo một đường hướng nào nhất định. Sự định trí, bắt tư tưỏong phải theo một đường lối suy nghĩ sẽ đưa ta đến sự kiểm soát thể vía.

Sau đó là sự kiểm soát thể trí, nghĩa là sử dụng trí tuệ để suy nghĩ, phân biệt, phá tan các tà kiến, các màn che phủ của vô minh. Định trí suy nghĩ là một việc, nhưng suy nghĩ chân chính, đứng đắn lại là một việc khác. Chỉ khi nào cả ba thể : xác, hồn, trí hoàn toàn được kiểm soát thì ta sẽ hoà hợp với Chân Ngã.

Từ đó, phàm nhân và Chân nhân hoà hợp làm một, con người sẽ tiến hoá đến một giai đoạn mới, trở nên một bậc chân tiên. Khi đó, con người bước vào một đời sống trường cửu của tinh thần, đời sống của đấng “Christ”. Đó là một đời sống huy hoàng, tốt đẹp, vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 13 Mar 2019 lúc 6:13pm

HÃY NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH

Ngồi im lặng hồi lâu… Xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác!

Vì sao có những người lương thiện cả đời gặp nỗi buồn và trắc trở?

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:
– Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:
– Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:
– Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:
– Phật dạy :”Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ”. Con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:
– Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:
– Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy. Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:
– Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây.

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu… Xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ?

– Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3063
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 20 Mar 2019 lúc 6:20pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 8 : ĐỜI SỐNG SIÊU NHÂN LOẠI (còn tiếp)

– Ông tin rằng tất cả đều tiến tới đời sống đó ?

– Dĩ nhiên, tiến hoá là một định luật vũ trụ và rồi ai cũng sẽ phải đi trọn con đường đó. Ta có thể làm ác, ích kỷ, đi ngược dòng tiến hoá, nhưng làm thế ta chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của mình, nhưng không thể chận đứng được dòng tiến hoá của nhân loại. Vấn đề đặt ra là thời gian, con người có thể đi đến mục đích trong thời gian ngắn nhất hoặc dài nhất .

Thí dụ như ta có thể bơi xuôi dòng, ngược dòng hay chơi vơi ở một chỗ, nhưng dòng nước vẫn chảy và dù muốn hay không, trước sau gì ta cũng trôi từ nguồn đến biển cả. Sống thuận theo thiên ý là bơi xuôi dòng, nghịch thiên ý là ngược dòng. Đa số con người thường chơi vơi, không nhất quyết, lúc chìm đắm, khi nổi trôi, có lúc ngược dòng, có khi lại xuôi dòng vì chưa ý thức sáng suốt để nhận định con đường phải theo.

– Nhưng làm sao biết đường nào là đường phải theo ?

– Chính vì con người bơ vơ, lạc lối nên mới có các bậc Thánh nhân chỉ bảo hướng dẫn. Sự hiện diện của các bậc như đức Phật, Chúa, Krishna…và các vị giáo chủ khác là để hướng dẫn cho nhân loại. Tiếc thay, con người chỉ thích ai nói thuận ý mình, đúng với điều mình mong ước , chứ không thích những điều “đúng sự thật”, không thích bị đánh thức…..

– Làm sao mình có thể biết được đâu là “đúng sự thật”?

– Con người có trí khôn, có óc phân biệt để làm gì ? Tại sao không chịu sử dụng chúng để lựa chọn một con đường tốt đẹp ?

– Ông muốn nói đến con đường đạo ? Làm sao ta có thể bước vào cửa đạo ?

Đạo sĩ vuốt bộ râu mỉm cười :
– Có bốn nhân duyên đưa ta đến cửa đạo. Nhân duyên thứ nhất là gần gủi, tiếp xúc, thân cận với những bậc thiện tri thức, những người đang đi trên đường đạo. Thí dụ như trong một tiền kiếp ta có dịp tiếp xúc với một vị đạo sư, giám mục, một người bề trên có kinh nghiệm tâm linh sâu xa. Chúng ta hết sức khâm phục và thiết tha mong rằng ta sẽ có các kinh nghiệm như vậy. Một hoài bão như thế chắc chắn sẽ giúp ta gặp đạo trong kiếp sau.

Nhân duyên thứ hai là nghiên cứu sách vở, nghe giảng giải về đạo lý. Càng ham nghiên cứu ta càng muốn tìm hiểu và đi sâu vào đạo nhiều hơn, và dĩ nhiên khi hiểu biết , ta sẽ thay đổi đời sống để cho nó có ý nghĩa hơn và đó là bước chân vào đường đạo.

Nhân duyên thứ ba là sự mở mang trí tuệ, vì một lý do nào đó, ta nhận thức những việc xảy ra rồi phân vân, đặt câu hỏi tại sao nó lại xảy ra như vậy? Từ sự hoài nghi ta suy gẫm, quan sát, học hỏi bằng sức mạnh của tư tưởng và có thể khám phá ra chìa khoá mầu nhiệm, các nguyên tắc đạo lý. Đây là con đường tu Thiền Định mà các ông đã nghe nói đến.

Nhân duyên thứ tư là sự trau dồi hạnh kiểm, tu thân, làm các việc thiện, mở rộng lòng bác ái, quên mình để giúp đỡ mọi người và dần dần ánh sáng tâm linh sẽ soi sáng hồn ta.

– Xin ông cho biết thêm về các bậc siêu nhân mà ông đã từng tiếp xúc.

Bakhir mỉm cười, vuốt nhẹ chùm râu bạc :

– Tôi đã gặp nhiều đạo sư có quyền năng siêu việt, có vị đã sống nhiều thế kỷ và đạt quả vị rất cao. Điều đặc biệt là các ngài xét mọi sự vật với một quan niệm khác hẳn chúng ta, vì trong tư tưởng các ngài không còn một chút ích kỷ như đa số chúng ta. Các ngài đã loại trừ bản ngã thấp hèn, không còn sống cho mình mà cho tất cả.

Ngoài đặc tính đó, các ngài còn phát triển hoàn toàn về mọi phương diện. Đa số chúng ta đều bất toàn, không mấy ai đạt đến trình độ cao tột. Ngay cả các nhà thông thái, bác học cũng chỉ đạt đến trình độ cao tột trên một phương diện nào đó thôi, và còn nhiều khía cạnh khác chưa được hoàn hảo. Chúng ta đều có mầm mống của mọi đặc tính, nhưng chỉ một vài phần thức động và phát triển không đồng đều. Các bậc siêu nhân là người đã phát triển toàn vẹn mọi đặc tính trên phương diện ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Phần lớn các vị siêu nhân đều có hình dáng bề ngoài tốt đẹp. Xác thân các ngài đều hoàn toàn về mọi phương diện và ít chịu ảnh hưởng của thời gian, có vị đã sống nhiều thế kỷ mà trông vẫn khoẻ mạnh như một người ngũ tuần.

Tôi đã gặp một vị đạo sư sống hơn 2000 năm nay, ngài cai quản một viện cổ tàng trong lòng núi. Viện cổ tàng này chứa đựng rất nhiều tài liệu dồi dào, phong phú dường như để ghi lại dấu tích toàn thể lịch sử tiến hoá của nhân loại. Trong đó có chứa đựng các hình thể của nhiều giống người đã sống trên mặt địa cầu, từ giống dân Lemurian đến các loài người khổng lồ từ thời xa xưa. Có các mô hình diễn tả sự biến đổi của lớp vỏ địa cầu sau các thiên tai, cũng như sự di chuyển của các giống dân trên các lục địa. Có các bản thảo bút tự rất cổ của các bậc đạo sư, giáo chủ, như có một bản viết của chính đức Phật khi ngài còn là thái tử Siddharta. Có các ngăn tủ bằng gỗ lim kiên cố chứa các tài liệu giáo lý nhiệm mầu, có thứ viết bằng các văn tự lạ lùng của những nền văn minh đã biến mất từ lâu. Ngoài ra còn có các bản đồ, mô hình các thành phố cổ xưa của quá khứ cũng như các di tích động vật rất cổ xưa….

Giaó sư Mortimer lên tiếng :
– Ông có nhớ chỗ đó không ? Làm sao có thể đến nơi đó được ?

Đạo sĩ nghiêm nghị :
– Dãy Hy Mã Lạp Sơn không phải nơi ai muốn đi, muốn đến dễ dàng được vì nó chứa đựng nhiều bí mật huyền bí và có các tinh linh canh giữ, phải có một nhân duyên lớn mới có thể đến các thánh địa đó được.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 177178179180181>

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.207 Giây.