Hội hữu nghị Việt Nam - Ukraine Trang chủ
Diễn đàn chính Diễn đàn chính > Những người đã học tập ở Ukraina > Chi hội Kiev
  Những chủ đề đang thảo luận Những chủ đề đang thảo luận RSS Feed: HẤP HÀO HOA
  Hướng dẫn Hướng dẫn  Tìm kiếm trong diễn đàn   Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

HẤP HÀO HOA

 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 181182183184185>
Tác giả
Thông báo
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 06 Sep 2019 lúc 8:06pm

VANG BÓNG MỘT THỜI (Nguyễn Tuân - 1939)

NHỮNG CHIẾC ẤM ĐẤT (tiếp theo)

Ông cụ Sáu, hôm nay lấy làm thích cái người khách lạ đó lắm. Người khách lạ vừa kể cho chủ nhân nghe một câu chuyện cổ tích. Lê trôn chén vào lợi chiếc đĩa cổ vài ba lần, người khách kể:

"Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin.

Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng.

Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn "uống trà tàu với!". Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi.

Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà:

"Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm".

Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường.

Mọi người cho là một thằng điên, không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu".

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

- Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

- Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

- Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

- Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. "Thứ nhất Thế Đức gan gà; - thứ nhì Lưu Bội; - thứ ba Mạnh Thần". Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

- Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

- Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

- Lại "ngư nhãn, giải nhãn" chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa.

Chủ khách cả cười, uống thêm mỗi người hai chén nữa. Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:

- Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một người bạn cũ. Mỗi lần gặp nhau, ta lại uống vài tuần nước. Hà, hà.
Năm ấy nước sông Nhĩ Hà lên to. Thảo nào mấy nghìn gốc nhãn trồng trên mặt đê quanh vùng, vụ đó sai quả lạ. Cái đê kiên cố đã vỡ. Nhưng vốn ở cuối dòng nước chảy xiết, nhà cửa cụ Sáu chưa đến nỗi bị cuốn phăng đi. Lúc nước rút, ở cái cổng gạch nguyên vẹn, hai mảnh giấy hồng điều đôi câu đối dán cửa vẫn còn lành lặn và nét chữ vẫn rõ ràng:

"Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu

Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai*.

Năm sau, quãng đê hàn khẩu, chừng hàn không kỹ, lại vỡ luôn một lần nữa. Cái cổng gạch nhà cụ Sáu vẫn trơ trơ như cũ. Nhưng lần này thì đôi câu đối giấy hồng điều, gió mưa đã làm bợt màu phẩm mực, ngấn nước phù sa đã phủ kín dòng chữ bằng những vạch bùn ngang dày dặn.

Ông khách năm nọ - cái người kể câu chuyện ăn mày sành uống trà tàu - đi làm ăn xa đã mấy năm, nhân về qua vùng đấy, nhớ nhời dặn của cụ Sáu, đã tìm tới để uống lại với ông già một ấm trà tàu nữa. Nhưng người khách hỏi nhà ông đến, người khách đã bùi ngùi thấy người ta bảo cho biết rằng nhà cụ Sáu đã bán rồi. Thấy hỏi thăm tha thiết, người vùng ấy mách thêm cho ông khách: "Có muốn tìm cố Sáu thì ông cứ xuống Chợ Huyện. Cứ đón đúng những phiên chợ xép vào ngày tám thì thế nào cũng gặp. Chúng tôi chỉ biết có thế thôi".

Phải, bây giờ ông cụ Sáu sa sút lắm rồi. Bây giờ ông cụ lo lấy bữa cơm cũng khó, chứ đừng nói đến chuyện uống trà. Thỉnh thoảng có xin được người nào quen một vài ấm, cụ lấy làm quý lắm: gói giấy giắt kỹ trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình mới đem ra pha uống. Vẫn còn quen cái thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ lại còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có giồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con: "Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến".

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

- Thế nào tôi cũng tìm được nắp cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin, ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 11 Sep 2019 lúc 8:35pm

SỨC MẠNH CỦA LƯƠNG TÂM

LÍNH CỨU HỎA ĐAN MẠCH

Khoảng 3h sáng ngày 13/11/1953, tổng đài của đội phòng cháy chữa cháy thủ đô Copenhagen, Đan Mạch nhận được một cuộc điện thoại. Người lính cứu hỏa 22 tuổi tên là Erich đã tiếp nhận cuộc gọi:
“Vâng, đây là đội phòng cháy chữa cháy”. Đầu dây bên kia không có ai trả lời nhưng Erich nghe thấy tiếng thở dốc nặng nề.

Không lâu sau đó, một giọng nói gấp gáp vang lên: “Cứu với, cứu tôi với… Tôi không đứng dậy được, tôi đang bị chảy máu”.

“Đừng hoảng hốt, thưa bà”
, Erich đáp lại, “Bà đang ở đâu, chúng tôi sẽ lập tức tới ngay?”

“Tôi không biết nữa”.

“Có phải bà đang ở nhà không?”

“Vâng, tôi nghĩ là tôi đang ở nhà”.

“Nhà bà ở đâu, đường nào vậy ạ?”

“Tôi không biết, đầu tôi choáng quá, tôi đang bị chảy máu”.

“Bà ít nhất cần nói cho tôi biết tên bà là gì?”

“Tôi không nhớ, tôi nghĩ là tôi bị đập vào đầu”.

“Xin đừng gác máy”.
Erich vừa nói vừa nhấc chiếc điện thoại khác để gọi đến công ty, một người đàn ông lớn tuổi nghe máy.

“Xin hãy giúp tôi tìm ra người đang sử dụng số điện thoại này, bà ấy đang gọi đến  đội phòng cháy chữa cháy”.

“Không, tôi không thể, tôi chỉ là bảo vệ gác đêm thôi, tôi không biết những việc này. Hơn nữa hôm nay là thứ bảy nên cũng không có ai ở đây cả”.

Erich cúp máy và nghĩ ra một ý tưởng khác, anh hỏi người phụ nữ: “Làm cách nào mà bà có số điện thoại của đội phòng cháy chữa cháy ạ?”

Người phụ nữ trả lời yếu ớt: “Số này đã được lưu trên điện thoại, lúc bị ngã tôi kéo điện thoại và nó đã gọi đến”.

Erich nói tiếp: “Vậy bà nhìn xem trên điện thoại có số điện thoại của nhà bà hay không?”

“Không có, không có dãy số nào khác, xin các anh hãy đến đây nhanh lên!”.
Giọng người phụ nữ càng lúc càng yếu đi.

Erich vội vàng hỏi: “Xin bà hãy nói cho tôi biết bà có thể nhìn thấy vật gì?”

“Tôi… tôi nhìn thấy cửa sổ. Ngoài cửa sổ có đèn đường”

Lúc này, Erich đã có một chút manh mối: Nhà của người phụ nữ hướng ra đường cái, hơn nữa chắc chắn ở lầu không cao, vì có thể nhìn thấy đèn đường.

“Cửa sổ như thế nào, có phải hình vuông không ạ?”

“Không, là hình chữ nhật”.

Căn cứ và hình dạng cửa sổ, Erich đoán người phụ nữ có thể đang sống ở một khu nhà cổ.

“Đèn nhà bà có bật không?”
– Đây là câu hỏi cuối cùng của người lính cứu hỏa Erich.

“Vâng, có bật”. 

Erich muốn hỏi thêm nhiều manh mối hơn nữa nhưng đầu bên kia đã không còn trả lời, điện thoại chưa bị cúp.

Erich biết rằng phải lập tức hành động. Nhưng chỉ dựa vào những manh mối đó, anh có thể làm gì đây? Anh gọi cho đội trưởng, trình bày lại vụ việc.

Vị đội trưởng nghe xong liền nói: “Không có cách nào cả, không thể tìm được người phụ nữ này…”.

Erich nghe vậy nhưng vẫn không muốn bỏ cuộc. Nhiệm vụ hàng đầu của người lính cứu hỏa là “Cứu người”, anh đã được dạy như thế.

Vào thời điểm này, Eric đã đưa ra một ý tưởng táo báo và không do dự bày tỏ suy nghĩ của mình với thủ trưởng. Đội trưởng nghe xong giật mình kinh ngạc: “Cậu làm như vậy thì dân chúng lại nghĩ là đang nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân đấy”.

“Tôi khẩn cầu ngài”
, Erich nói, “Chúng ta phải mau chóng hành động, nếu bỏ qua cơ hội cứu người này, thì hết thảy đều phí công vô ích”.

Đầu dây bên kia im lặng một lúc, sau đó đội trưởng nói: “Được, chúng ta hãy làm như vậy, tôi chạy qua ngay”.

10 phút sau, 20 chiếc xe cứu hỏa hú còi báo động inh ỏi trong thành phố, mỗi xe một khu vực, chạy khắp các nẻo đường.

Tiếp theo, Erich cẩn thận lắng nghe đầu dây bên phía người phụ nữ, anh vẫn nghe thấy tiếng thở dốc của bà.

Sau đó, vị đội trưởng hỏi anh đã nghe thấy tiếng còi xe cứu hỏa chưa?
“Tôi đã nghe thấy”
, Erich trả lời.

Vị đội trưởng ra lệnh: “Xe số 2, tắt còi báo động”. Lần này Erich trả lời: “Tôi vẫn còn nghe thấy tiếng còi xe”.

Cho đến chiếc xe thứ 12, Erich hô lên: “Tôi không nghe thấy nữa rồi”.
“Xe số 12, mở còi báo động”. 

“Tôi đã nghe thấy tiếng còi xe, nhưng càng chạy càng xa”. 

“Xe số 12, quay đầu lại”
– đội trưởng ra lệnh.

Ngay sau đó, Erich reo lên: “Đang tới gần rồi, âm thanh nghe ngày càng chói tai, chắc hẳn sắp tới con đường phía nhà người phụ nữ rồi”.

Vị đội trưởng hỏi: “Xe số 12, các bạn có nhìn thấy một cột đèn đường không?”

“Có hơn trăm đèn đường, mọi người đang ngó ra cửa sổ xem xảy ra chuyện gì”.

“Hãy dùng loa”, vị đội trưởng ra lệnh.

Erich nghe thấy tiếng loa: “Thưa quý ông quý bà, chúng tôi đang tìm kiếm một người phụ nữ đang trong tình trạng nguy kịch, chúng tôi chỉ biết bà ấy đang ở trong một căn nhà có đèn sáng, vậy nên mong các vị hãy tắt đèn nhà mình đi”. Sau khi nghe hiệu lệnh, người dân lập tức tắt hết đèn.

Chỉ trong chốc lát, tất cả căn nhà đều tối, chỉ trừ một cửa sổ…
Không lâu sau đó, Erich nghe thấy tiếng nhân viên cứu hỏa đi vào trong phòng, một người nói qua bộ đàm: “Người phụ nữ này đã mất ý thức, nhưng mạch vẫn đập. Chúng tôi lập tức đưa bà ấy đến bệnh viện, tôi tin rằng sẽ cứu được bà ấy”.

Helen Thornda – đây là tên của người phụ nữ đã được cứu sống. Bà tỉnh lại và hồi phục trí nhớ của mình vài tuần sau đó.

Sự kiên trì nỗ lực của người lính cứu hỏa trẻ tuổi Erich đã cứu sống được một sinh mạng. Sự việc này đã chứng minh một vấn đề: “Nếu bạn thực sự muốn làm một điều gì đó, bạn nhất định sẽ tìm ra cách. Ngược lại, nếu bạn muốn từ bỏ một điều gì đó, bạn sẽ tìm ra rất nhiều lý do để thuyết phục mình. Làm hay không là do bạn lựa chọn!”

Sưu tầm

 
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 17 Sep 2019 lúc 6:01pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 9 : CÕI VÔ HÌNH (tiếp theo)

Giáo sư Evan-Wentz ngắt lời :
– Xin ông nói rõ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai cập. Lịch sử vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy tàn nhanh chóng như vậy ?

Hamud ngồi im lặng như hồi tưởng một ký ức xa xôi nào đó, một lúc sau y gật đầu :
– Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của nền văn minh Ai cập. Đa số đỗ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai, nhưng ít ai biết rõ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ý muốn tiết lộ những điều này, vì mục đích buổi tiếp xúc hôm nay là nói chuyện, tham khảo về cõi giới vô hình. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân duyên đặc biệt với các ông. Điều này không phải tự ý tôi, nhưng do một thông điệp tư tưởng của một vị chân sư chuyển giao. Tôi muốn tiết lộ những điều này như một cảnh cáo đối với thế giới ngày nay, để họ không đi vào vết xe của quá khứ…

Một lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật lại được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị pháp sư Ai cập ngửa mặt nhìn lên trời như ôn lại dĩ vãng :
– Trong thời buổi vàng son, nền văn minh Ai cập đã đến lúc cực thịnh. Các đạo viện với những minh sư truyền dạy khoa học huyền môn, đưa dân trí đến một mức tiến bộ vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời gian, nhiều tu sĩ đã không giữ gìn giới luật khắt khe, hoặc không thấu hiểu các giáo điều cao siêu. Họ bèn tìm một lối đi ngắn hơn và dễ hơn, chú trọng về phương pháp kỹ thuật để đạt đến quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ không phải phương tiện nữa.

Để đạt mục đích, họ không ngần ngại hy sinh quyền lợi tôn giáo, quốc gia… Thiếu sáng suốt nên họ đi vào ma đạo, và chịu sự sai khiến của các động lực âm bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe nhóm, liên kết lẫn nhau, để tạo một ảnh hưởng cực mạnh, đến nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ lạm dụng danh từ tôn giáo, thần linh, truyền bá các tà thuật, phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín đồ…

Dĩ nhiên với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người bình thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn, dân chúng đều trở thành nạn nhân của một thứ tà giáo. Các vị pháp sư trở nên sứ giả của cõi âm, một thứ quỷ sống đội lốt người. Họ còn kêu gọi những âm binh hung ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích ám muội.

Trong đền thờ, khoa phù thuỷ thay thế sinh hoạt tâm linh và các tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng vì thế, khoa huyền môn chân chính trở nên thất truyền vì không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ chân chính phải trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi, khi cánh cửa huyền môn chân chính khép chặt.

Các ông nên biết, trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ, các nhà toán học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học hỏi trong các tu viện; vì thời đó, không có trường học hay nền giáo dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người từ bỏ thượng đế để tôn thờ các loài ma quái thì các thứ như chiêm tinh, toán học, kiến trúc, không còn lý do để tồn tại.

Thời gian trôi qua, nền văn minh Ai cập huy hoàng đã xuống dốc cực kỳ thảm hại. Chính các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy tham vọng là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh trên. Họ lợi dụng danh nghĩa tôn giáo, một thứ tôn giáo ma quái để đưa Ai cập vào con đường thoái hoá.

Thay vì lo giải thoát cho chính mình khỏi mê lầm, thì họ lại hướng dẫn quần chúng vào ma đạo. Thay vì tuân theo các giới luật thì họ lại phá giới, nguỵ biện bằng các danh từ hoa mỹ, tốt đẹp. Thay vì kiểm thảo nội tâm, họ lập phe nhóm bênh vực lẫn nhau để che dấu các hành vi tà muội.

Khoa nghi thức hành lễ mất hết các tính cách thiêng liêng, mà chỉ còn hình thức bề ngoài, kêu gọi một năng lực ngoại giới đến trợ giúp quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến thành hối lộ, tu sĩ lựa chọn các thứ mình thích nhất như món ăn, thiếu nữ xinh đẹp để tế thần. Sau đó đem chia chác cho nhau cùng hưởng thụ; thượng đế nhân từ bác ái bỗng biến thành một thần linh toàn lực, toàn uy, trọn quyển thưởng phạt mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc nhân tâm, khoa bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương tiện cần thiết để thoả mãn tham vọng cá nhân.

Để tránh các tinh tuý huyền môn không lọt vào tay giới bàng môn tà đạo, các tu sĩ chân chánh đã sử dụng khoa Ám Tự (chữ tượng hình cổ Ai cập). Đây là một văn tự huyền bí ẩn dấu nhiều ý nghĩa tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính sau khi vượt qua thử thách mới được tiết lộ. Sự sử dụng ý nghĩa biểu tượng hoặc tỷ dụ được dùng tối đa, chính Moses về sau đã sử dụng ngôn ngữ này trong các cuốn sách của Do thái .

Sự bành trướng của nhóm tà đạo quá mạnh, các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm và cuối cùng thì khoa huyền môn chân chính cũng thất truyền. Một số giáo sĩ, khoa học gia, các nhà toán học, kiến trúc, trốn sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa này tại đây, mở đầu cho một nền văn minh mới. Trong khi đó, để lôi cuốn phe đảng, vấn đề truyền giáo được đặt ra và giới tăng lữ buộc các vua Pharaoh phải gây chiến tranh để truyền bá tôn giáo. Các cuộc “thánh chiến” này đã đem lại một giai cấp mới – Nô lệ .

Giaó sư Mortimer ngạc nhiên :
– Như thế lúc trưóc không có nô lệ hay sao ?

Hamud lắc đầu :
– Nền văn minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái hoàn hảo của từng cá nhân, làm gì có vấn đề nô lệ. Hiện tượng nô lệ chỉ bắt đầu khi văn hoá suy đồi, giới tu sĩ lộng hành và sau các cuộc chiến tranh. Lúc đầu họ là tù binh chiến tranh, về sau họ trở thành nô lệ. Sau đó các giáo sĩ đặt ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi là nô lệ.

Dân Do thái vì khác tôn giáo nên trở thành nạn nhân đầu tiên. Tình trạng nô lệ thay đổi xã hội rất nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi miên để thoả mãn dục vọng, các nô lệ đương nhiên phải làm tất cả những gì chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn phù thuỷ, bùa chú cũng thất truyền vì giới tu sĩ không cần đến nó nữa. Khi các phép thuật biến mất thì uy tín các giáo sĩ cũng giảm theo, và các vua Pharaoh bắt đầu hạn chế quyền lực các giáo sĩ.

Khi nền văn minh xuống dốc, các chân lý tốt đẹp biến mất, đời sống hưởng thụ của tiện nghi vật chất khiến các vua chúa trở nên ích kỷ, chỉ muốn kéo dài đời sống, nên phong tục xây cất nhà mồ, ướp xác trở nên thịnh hành,vì nó hứa hẹn một đời sống vĩnh cữu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại đã làm khánh kiệt tài sản quốc gia, đưa xã hội Ai cập vào một tình trạng suy thoái… Do đó, Ai cập trở nên một miếng mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp.. Lịch sử đã ghi chép khá rõ ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đã biết rõ….

Phái đoàn im lặng nhìn nhau, sự suy yếu của Ai cập sau khi bị Ba Tư, Hy Lạp cai trị không phải là một điều gì xa lạ, nhưng tại sao một nền văn minh như Ai cập đã xây cất những Kim tự tháp hùng vĩ, đã sản xuất bao nhân tài, ảnh hưởng sâu rộng đến toàn cõi Trung đông, lại suy sụp mau chóng vẫn còn là một câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của Hamud là một chìa khoá vô giá về lịch sử này.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Sep 2019 lúc 9:10pm

VANG BÓNG MỘT THỜI (Nguyễn Tuân - 1939)

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường, viên quan coi ngục quay lại hỏi thầy thơ lại giúp việc trong đề lao:

- Này, thầy bát, cứ công văn này, thì chúng ta sắp nhận được sáu tên tù án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?

Thầy thơ lại xin phép đọc công văn.

- Dạ, bẩm chính y đó. Dạ, bẩm có chuyện chi vậy?

- Không, tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc nhỏm đến cái danh đó luôn, thì tôi cũng hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. À, nhưng mà thong thả. Thầy bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng cuối cùng. Có việc dùng đến. Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không?

- Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà!

- Ờ, cũng gần như vậy. Sao thầy lại chặc lưỡi?

- Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc.

- Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn. Thôi, thầy lui về mà trông nom việc dưới trại giam. Mai, chúng ta phải dậy sớm để cho có mặt ở cửa trại trước khi lính tỉnh trao tù cho mình lĩnh nhận. Ðêm nay, thầy bắt đầu lấy thêm lính canh. Mỗi chòi canh, đều đặt hai lính. Chòi nào bỏ canh, hễ mỗi vọng canh ngủ quên không đánh kiểng đánh mõ, thầy nhớ biên cho rõ, cho đúng để mai tôi phạt nặng. Chớ có cho mấy thằng thập nó đánh bạc nghe!

Thầy thơ lại rút chiếc hèo hoa ở giá gươm, phe phẩy roi, đi xuống phía trại giam tối om. Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhạt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương. Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma.

Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ.

Nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vợi lần mực dầu. Hai ngọn bấc lép bép nổ, rụng tàn đèn xuống tập giấy bản đóng dấu son ty Niết. Viên quan coi ngục ngấc đầu, lấy que hương khêu thêm một con bấc. Ba cái tim bấc được chụm nhau lại, cháy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy.

Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ.
Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc; tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.

Ông Trời nhiều khi hay chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt.

Ngục quan lấy làm nghĩ ngợi về câu nói ban chiều của thầy thơ lại. " Có lẽ lão bát này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại, nhưng chỉ sợ tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên. Ðể mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu ".

Sớm hôm sau, lính tỉnh dẫn đến cửa ngục thất sáu tên tù mà công văn chiều hôm qua đã báo trước cho ngục quan biết rõ tên tuổi, làng xóm và tội hình. Sáu phạm nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước. Cái thang dài ấy đặt ngang trên sáu bộ vai gầy. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn, nếu đem bắt lên mỏ cân, có thể nặng đến bảy tám tạ. Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người tử tù. Gỗ thân gông đã cũ và mồ hôi cổ mồ hôi tay kẻ phải đeo nó đã phủ lên một nước quang dầu bóng loáng. Những đoạn gông đã bóng thì loáng như có người đánh lá chuối khô. Những đoạn không bóng thì lại sỉn lại những chất ghét đen sánh. Trong khi chờ đợi cửa ngục mở rộng, Huấn Cao, đứng đầu gông, quay cổ lại bảo mấy bạn :

- Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải rỗ gông đi.

Sáu người đều quỳ cả xuống đất, hai tay ôm lấy thành gông đầu cúi cả về phía trước. Một tên lính áp giải đùa một câu:

- Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sõi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. đứng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ.

Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen.

Cánh cửa đề lao mở rộng. Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai. Trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi. Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao. Bọn lính lấy làm lạ, đều nhắc lại:

- Bẩm thầy, tên ấy chính là thủ xướng. Xin thầy để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn.

Mấy tên lính, khi nói chữ "để tâm" có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra. Ngục quan ung dung:

- Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời.

Bọn lính rãn cả ra, nhìn nhau mà không hiểu. Sáu tên tử tù có ngạc nhiên về thái độ quản ngục.

Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người thơ lại gầy gò, đem rượu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù. Mỗi lúc dâng rượu, với thức nhắm, người thơ lại lễ phép nói: " Thầy quản chúng tôi có ít quà mọn này biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây, lạnh lắm ".

Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu và ăn thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Rồi đến một hôm, quản ngục mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn:

- Ðối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất.

Ông đã trả lời quản ngục:

- Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.

Khi nói câu mà ông cố ý làm ra khinh bạc đến điều, ông Huấn đã đợi một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục. Ðến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này. Ngục quan đã làm cho ông Huấn bực mình thêm, khi nghe xong câu trả lời, y chỉ lễ phép lui ra với một câu: " Xin lĩnh ý ".

Và từ hôm ấy, cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước nữa; duy chỉ có y là không đặt chân vào buồng giam ông Huấn. Ông Huấn càng ngạc nhiên nữa: năm bạn đồng chí của ông cũng đều được biệt đãi như thế cả.

Có nhiều đêm, ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục. " Hay là hắn muốn dò đến những điều bí mật của ta? ". " Không, không phải thế, vì bao nhiêu điều quan trọng, ta đã khai bên ty Niết cả rồi. Ta đã nhận cả. Lời cung ta ký rồi. Còn có gì nữa mà dò cho thêm bận ".

Trong đề lao, ngày đêm của tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn đằng đẵng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục, không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục chỉ mong mỏi một ngày rất gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết lại, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho...cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện.

Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời.

Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời nữa.

Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan Hình Bộ Thượng thư trong Kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi.

Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói: " Dạ xin ngài cứ yên tâm, đã có tôi " Rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đấm cửa buồng giam, hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng quản ngục, và ngập ngừng báo luôn cho ông Huấn biết việc về Kinh chịu án tử hình.

Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát, rồi mỉm cười: " Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ ".

Ðêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, họ dụi mắt lia lịa.

Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực...

Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:

- Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?...Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: " Kẻ mê muội này xin bái lĩnh ".

*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2019 lúc 7:10pm

SỨC MẠNH CỦA VÔ LƯƠNG TÂM

GIẾT NGƯỜI ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Theodore John Kaczynski, hay Ted Kaczynski (sinh ngày 22 tháng 5 năm 1942) còn được biết đến với tên nặc danh “Kẻ đánh bom thư”, là tội phạm khủng bố và sát nhân khét tiếng theo chủ nghĩa vô chính phủ, từng là nhà toán học thiên tài người Mỹ.

Từng là thiên tài toán học, hắn đã từ bỏ sự nghiệp học vấn đầy hứa hẹn từ năm 1969.

Năm 1971, Ted chuyển đến ở một căn nhà nhỏ ở nơi hẻo lánh, không có điện và nguồn nước cung cấp ổn định ở gần Lincoln, Montana để bắt đầu một cuộc sống ẩn mình khỏi thế giới. Hắn dành thời gian để học cách sinh tồn trong tự nhiên mà không bị lệ thuộc vào các công nghệ hiện đại. 

Tại sao Ted muốn từ bỏ cuộc sống thành thị và chọn sống ở vùng núi sâu ? Bởi vì hắn ngày càng chán ghét xã hội công nghiệp, hắn nói với gia đình tiến bộ công nghệ sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho nhân loại trong tương lai gần, vì vậy hắn, với cương vị một nhà toán học, không thể tiếp tục thúc đẩy quá trình này.

Tuy nhiên trong nhiều năm, sự ẩn dật của Ted bị xáo trộn. Với sự mở rộng của lĩnh vực bất động sản, người ta đến tàn phá các khu rừng, tiếng máy chặt cây, tiếng máy bay bay trên đầu khiến Ted cảm thấy rất bực bội. Hắn thậm chí dùng súng tầm ngắn để bắn những chiếc máy bay trong vô vọng, hắn phá hủy máy móc trong công trường xây dựng, xe du lịch và đầu độc cả những chú chó hàng xóm hay sủa.

Hắn không thích không gian bên ngoài vì cho rằng môi trường quá ô nhiễm. Hắn nói: “Tất nhiên tôi vẫn yêu môi trường nhưng giống như tình yêu của một bà mẹ dành cho đứa con tàn tật, đó là một tình yêu buồn thảm.” 

Sau khi thấy môi trường quanh nơi mình sống bị phá hủy quá nhiều, Ted tin rằng cách duy nhất để cứu lấy thiên nhiên là tiến hành một cuộc Cách Mạng nhắm vào công nghệ hiện đại. 

Từ 1978 đến 1995, Ted đã “gửi” 24 quả bom đến nhiều người trên khắp đất nước trong 18 năm.

Mỗi thiết bị phát nổ do Ted phát minh đều được làm thủ công và độc nhất vô nhị. Thiết bị được làm từ rác thải của nền công nghiệp, nguyên liệu chủ yếu là gỗ và không có bất kỳ nhãn hiệu thương mại nào. Thuốc súng cũng tự chế tạo, pin đã bị xé rách phần vỏ, các lõi dây được kết hợp và tất cả các bộ phận không có bất kỳ dấu vân tay và thông tin DNA nào.

Quả bom đầu tiên nhằm vào Giáo sư Crist của Đại học Tây Bắc ở Illinois. Khi đó, tên người gửi bưu kiện là Giáo sư Crist, bưu kiện bị trả lại vì không tìm thấy tên và địa chỉ người nhận.Giáo sư Crist cảm thấy rất kỳ lạ nên đã gọi điện báo cảnh sát và khi cảnh sát mở quả bom, nó đã phát nổ. 

Quả bom thư thứ hai được gửi đến một sinh viên của Đại học Tây Bắc, anh chàng này cũng bị thương nhẹ khi quả bom phát nổ.

Mục tiêu của quả bom thứ ba nhắm vào một chuyến bay của hãng US Airways. May mắn là quả bom không phát nổ thành công. Đây là một quả bom được thiết kế rất thông minh: Được lắp đặt để khi đạt đến một độ cao nhất định, nó sẽ phát nổ.

Vụ việc được coi là một vụ khủng bố lớn vì mục tiêu của nó là chuyến bay chứa hàng trăm người. Vì vậy FBI ngay lập tức can thiệp và mở ra cuộc săn lùng. FBI cũng đã thành lập một nhóm hành động chuyên dụng, họ gọi hắn bằng cái tên UNABOMBER – University and Airline Bomber (Tạm dịch: Kẻ đánh bom thư). 

Từ túp lều trên núi sâu của mình, Ted tiếp tục gửi những lá thư bằng bom đến khắp Illinois, California, Tennessee, Utah, Connecticut, Michigan, New Jersey và Washington. Mục tiêu của hắn bao gồm các học giả, doanh nhân, giám đốc điều hành, chủ cửa hàng máy tính và sinh viên. Tổng cộng có 3 người thiệt mạng và 23 người bị thương, nhiều người bị khuyết tật như mất ngón tay, cánh tay, mắt và những bộ phận khác.

FBI tăng dần mức tiền thưởng lên đến hàng triệu đô la nhưng không thu về bất cứ manh mối nào, vì Ted quá cao tay.

Hành tung của Ted cực kỳ bí ẩn và khó phát hiện. Khi đi ra ngoài, hắn đeo kính râm, mặc áo gió, đội mũ trùm đầu và dán râu giả. Ngay cả khi hắn bị theo dõi, người ta cũng không thu hoạch được gì từ hắn.

Dưới sự hiểu lầm về việc giết người một cách ngẫu nhiên của Ted, FBI xác định rằng nghi phạm là một thợ cơ khí lành nghề hoặc một công nhân cơ khí tay nghề cao. Cảnh sát cũng nghi ngờ rằng thủ phạm là một cựu nhân viên hàng không nhưng gặp bất mãn trong quá trình làm việc, vì xác định sai đối tượng nên họ đã tiêu tốn rất nhiều tiền bạc và thời gian trong việc truy lùng tội phạm.

Năm 1995, cảnh sát Mỹ bất ngờ nhận được một món quà đặc biệt: Unabomber đã chủ động gửi một bản thảo 35.000 từ, dài 78 trang có tựa đề “Xã hội công nghiệp và tương lai của nó” tới Thời báo New York và The Washington Post.

Ý tưởng chung của bài báo là cuộc cách mạng công nghiệp và hậu quả của nó là một thảm họa đối với con người. Do những tiến bộ trong công nghệ, hầu hết mọi người đều theo đuổi những thứ vô dụng mà đánh mất đi bản thân mình, bài báo kêu gọi mọi người từ bỏ nền công nghiệp đang phát triển và trở về với thiên nhiên.

Ngoài ra còn tuyên bố trong bản thảo rằng: Nếu bài báo không được xuất bản hắn sẽ gửi thêm nhiều quả bom nữa.

Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ và FBI đã đồng ý với yêu cầu của hắn và các bài báo đã được xuất bản và gây ra một làn sóng tranh cãi rất mạnh mẽ trong dư luận. Bài báo được coi là một tuyên bố mang tính cách mạng đối với ngành công nghiệp. Nhiều học giả và giáo sư ủng hộ luận điểm của bài báo “Đây là một tác phẩm thiên tài, ít nhất là nó rất sâu sắc, rất hợp lý và có sức thuyết phục đáng lo ngại.”

Sau khi xuất bản bài báo, Unabomber đã nổi tiếng ở khắp Hoa Kỳ. FBI nhận được hơn một nghìn cuộc gọi báo cáo mỗi ngày, nhưng đó là những trò đùa vô dụng, cho đến khi một người gọi điện đến.

Đó chính là em trai của Ted, David, anh luôn có quan hệ tốt với anh trai của mình và hai người vẫn giữ liên lạc cho đến năm 1980. Sau khi đọc bài báo trên các tờ báo lớn, David cảm thấy rất ngạc nhiên vì văn phong và từ vựng rất giống cách dùng của anh trai mình.

Sau khi đắn đo, anh quyết định gọi điện báo án với cảnh sát, nhưng với một điều kiện là không được làm tổn thương anh trai mình.

Ngày 3 tháng 4 năm 1996, các đặc vụ FBI đã bắt giữ Ted trong chính túp lều của hắn. Sau khi khám xét xung quanh túp lều, người ta tìm thấy một quả bom lắp ráp và một cuốn sổ nhật ký viết tay 40.000 trang, bao gồm các thí nghiệm chế tạo bom. Ngoài ra còn có sách về nhân chủng học, lịch sử, luyện kim và hóa học trong căn nhà gỗ.

Các luật sư khuyên Ted sử dụng bệnh tâm thần làm cớ cho những hành vi sai trái của mình. Nếu thừa nhận mình bị tâm thần thì Ted sẽ thoát khỏi án tử hình và được giảm nhẹ tội nhưng hắn không đồng ý vì không muốn người khác nghĩ rằng luận điểm của mình là luận điểm của kẻ điên.

Cuối cùng, Ted và công tố đã đạt được thỏa thuận biện hộ, vào ngày 22 tháng 1 năm 1998, hắn đã nhận tội với 13 cáo buộc, để đổi lấy án tù chung thân và không bao giờ được phép tạm tha ra tù.

Ted đã bị giam giữ trong một nhà tù được bảo vệ nghiêm ngặt ở Colorado, ở đó hắn vẫn tiếp tục xuất bản hai cuốn sách và vẫn bám sát quan điểm của bản thân về xã hội công nghiệp.

Đối với Ted, người thích cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, điều hối tiếc lớn nhất là mặc dù nhà tù nằm ở dãy núi Rocky, hắn chỉ có thể nhìn thấy một chút khung cảnh thiên nhiên qua giếng trời của phòng giam.

Sưu tầm
*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 05 Oct 2019 lúc 6:13pm

SỨC MẠNH CỦA LƯƠNG TÂM

NHÂN QUẢ GIÚP NGƯỜI

Ignacy Jan Paderewski là cựu Thủ tướng Ba Lan, còn Herbert Hoover là cựu Tổng thống Mỹ. Trong quá khứ, hai vị này đã có những việc làm rất đẹp để giúp đỡ lẫn nhau. Người ta nói rằng, chính sự giúp đỡ nhau ấy đã không chỉ làm thay đổi vận mệnh của bản thân họ mà còn thay đổi vận mệnh của hàng triệu con người. Câu chuyện nhân quả dưới đây xảy ra tại đại học Stanford và đã được ghi vào lịch sử.

Vào cuối thế kỷ 19 ở Mỹ, có hai chàng trai trẻ tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng đã thi đậu vào một trường đại học danh tiếng.

Để có tiền trang trải học phí và chi phí sinh hoạt, họ đã vừa học vừa làm. Họ nghĩ ra cách kiếm tiền, đó là quyết định tổ chức một buổi hòa nhạc cho một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng với hy vọng sẽ kiếm được một chút tiền hoa hồng nhỏ bé nào đó.

Vì vậy, họ đã tìm đến một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng thời ấy là ông Ignacy Paderewski. Người quản lý của nghệ sĩ Ignacy Paderewski và hai chàng trai trẻ đã thỏa thuận với nhau. Họ thống nhất rằng vị nghệ sĩ sẽ nhận được 2.000 USD tiền thù lao cho buổi biểu diễn ấy.

Đối với vị nghệ sĩ thì số tiền thù lao này phù hợp so với tên tuổi của ông lúc bấy giờ. Nhưng đối với hai chàng trai trẻ, thì 2.000 USD là một số tiền quá lớn. Nếu buổi biểu diễn mà họ tổ chức không thu về được 2.000 USD, thì họ sẽ bị lỗ nặng và rơi vào tình cảnh thê thảm.

Cuối cùng, hai chàng trai trẻ đã quyết định ký hợp đồng và bắt đầu dốc toàn tâm toàn lực cho buổi hòa nhạc ấy. Sau khi buổi hòa nhạc kết thúc, họ kiểm kê số tiền thu được và phát hiện rằng, họ chỉ thu được 1.600 USD.

Họ đã gom hết lại số tiền ấy và trả hết cho nghệ sĩ Paderewski. Đồng thời họ cũng trao cho ông một tờ giấy nhận nợ số tiền là 400 USD với lời cam kết rằng họ sẽ hoàn trả số tiền đó sớm nhất có thể.

Paderewski nhìn hai chàng trai nghèo và đã rất xúc động. Ông lập tức xé nát tờ giấy nhận nợ 400 USD đó đi. Sau đó, ông đã đưa trả 1.600 đôla cho hai chàng trai và nói: “Hãy dùng số tiền này để chi trả tiền học phí và phí sinh hoạt của hai cậu. Phần tiền còn lại sau khi chi trả, các cậu hãy lấy 10% làm tiền công. Tôi sẽ lấy số tiền còn lại!

Chứng kiến cảnh ấy, hai chàng trai trẻ đã bật khóc vì trong lòng cảm thấy vô cùng xúc động.

Trải qua nhiều năm sau, khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất chấm dứt, nghệ sĩ dương cầm Paderewski trở lại quê hương Ba Lan và trở thành Thủ tướng Ba Lan.

Bởi vì chiến tranh tàn phá, nên đất nước Ba Lan lúc này vô cùng khó khăn về tài chính, người dân ở đó đang chết đói hướng về phía ông mà kêu cứu. Ông đã đi khắp nơi nhưng không thể tìm ra cách để giải quyết cuộc khủng hoảng nghiêm trọng này.

Cuối cùng, không còn lựa chọn nào khác, ông đã tìm đến Herbert Hoover, lúc ấy đang là chủ tịch Cơ quan Cứu trợ và Lương thực Hoa Kỳ để cầu xin sự trợ giúp.

Khi Herbert Hoover nhận được lời kêu gọi trợ giúp, ông đã không do dự mà lập tức đồng ý gửi cho Ba Lan một lượng viện trợ lương thực vô cùng lớn.

Ngay sau đó, hơn một vạn tấn lương thực viện trợ được chuyển đến Ba Lan. Người dân Ba Lan đã thoát khỏi “cái chết” trước nạn đói.

Thủ tướng Paderewski vì muốn biểu đạt lòng biết ơn của mình tới Herbert Hoover nên đã hẹn gặp trực tiếp ở Paris.

Khi hai người gặp nhau, Herbert Hoover nói:
“Ngài không cần phải cảm ơn tôi. Tôi mới chính là người phải cảm ơn ngài! 
Thủ tướng Paderewski, có một việc có lẽ ngài đã quên từ lâu, nhưng tôi thì vĩnh viễn không thể quên! Đó là khi còn ở Mỹ, ngài đã từng giúp đỡ hai cậu sinh viên nghèo. Tôi chính là một trong hai chàng trai đó!

Sau này, Herbert Hoover đã trở thành Tổng thống Mỹ .

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 05 Oct 2019 lúc 6:20pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 9 : CÕI VÔ HÌNH (tiếp theo)

Nhà pháp sư Ai cập mỉm cười nhìn tất cả mọi người :
– Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi theo chu kỳ, nhiều việc xảy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống trong thời buổi đen tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang, nhân loại mới ao ước cõi tâm linh cao thượng . Nhu cầu này sẽ được đáp ứng, và một đấng thánh nhân sẽ chuyển kiếp xuống trần, mở rộng cánh cửa tâm linh, hướng dẫn nhân loại dưới một hình thức, phương tiện thích hợp với hoàn cảnh thời gian và không gian khi đó.

Điều này đã xảy ra nhiều lần tại các nơi khác nhau trên thế giới, từ Trung hoa qua Ấn độ, đến Trung đông. Các bậc thánh nhân đều rao truyền những chân lý cao siêu, đẹp đẽ, nhưng vì nhân loại cứ u mê, thiếu hiểu biết, nên chỉ ít lâu sau tất cả lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lý cao đẹp bị xuyên tạc, sửa đổi, giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ mê tín, thành kiến , đầy cuồng tín. Dù sao đi nữa bánh xe tiến hoá vẫn quay đều và trong mọi hoàn cảnh, thời đại nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt mức để tự giải thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận định chân lý…

Hamud im lặng một lúc rồi thong thả :
– Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được. Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh. Mọi sự hiểu biết chỉ nhắm vào hiện tượng thay vì nguyên nhân bản chất. Do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được lòng người hoặc giúp cho con người có cái nhìn sáng suốt, có được một tâm hồn bình an. Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến cho con người cực kỳ bất mãn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt.

Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần. Tất cả các ngôi mộ cổ đều là nơi giam giữ các động lực vô hình để canh giữ, duy trì ảnh hưởng tà môn.

Khi được tháo củi xổ lồng, chúng sẽ mang nền tà giáo cổ Ai cập trở lại thế kỷ này. Dĩ nhiên, dưới một hình thức nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này…

Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống. Trong thời buổi này, khối óc ly trí không giúp được gì mà chỉ có sự hiểu biết và ý thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.

Giáo sư Allen ngắt lời :
– Nhưng đã có bằng chứng gì về sự hiện diện của các động lực vô hình này. Làm sao có thể cảnh cáo mọi người về sự trở lại của pháp sư thời cổ ? Người Âu Mỹ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lý nếu không có bằng chứng rõ rệt.

Hamud mỉm cười bí mật :
– Cõi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi, nên tôi có thể trình bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm, như một bằng chứng. Chuyện xảy ra đã bắt đầu xảy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ thuyết đẹp đẽ thế mấy đi nữa, thì họ vẫn chỉ có thể sống như một con người.

Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ…

Giáo sư Allen bật cười :
– Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải tám ngàn năm trước ?

Hamud mỉm cười :
– Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.

*
Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 12 Oct 2019 lúc 7:49pm

SỨC MẠNH CỦA LƯƠNG TÂM

KHÔNG PHẢN BỘI ĐỒNG NGHIỆP

Khi có tin về chuyện giám đốc điều hành của hãng Cathay Pacific, ông Rupert Hogg từ chức, ai nấy đều nghĩ rằng đó là một cú đào thoát ra khỏi nhiệm sở ở Hồng Kông, vào lúc môi trường làm việc đang gặp khủng hoảng bởi các cuộc biểu tình kéo dài. Thế nhưng mới đây, các tiết lộ thêm về lý do từ chức của ông Rupert Hogg khiến ai nấy đều ngỡ ngàng.

Vào những ngày sân bay Hồng Kông tràn ngập người biểu tình, trong đó có cả những người là nhân viên của hãng Cathay Pacific cũng tham gia, Bắc Kinh đã tức giận ra lệnh cho ông Rupert Hogg là phải lên danh sách tất cả những nhân viên của Cathay Pacific đã ủng hộ cuộc xuống đường, nhằm đuổi việc họ !

Bắc Kinh trở thành cổ đông lớn thứ hai của Cathay Pacific, thông qua hãng Air China Ltd, do đó ngoài quyền lực chính trị, Bắc Kinh còn có quyền đình chỉ công việc của bất kỳ nhân viên nào của hãng bay này, thậm chí bàn giao danh sách của những nhân viên đó cho phía an ninh đại lục.

Rupert Hogg đã nộp một danh sách cho Bắc Kinh vào đúng giờ được yêu cầu, nhưng trong đó chỉ ghi duy nhất tên của ông . Sau đó ông cũng nộp đơn từ chức. Mọi hành động cao cả này, Rupert Hogg lặng lẽ thực hiện mà không bày tỏ với ai, do đó đến hôm nay, khi tin tức lan ra từ thông cáo chính thức của Cathay Pacific, mọi người mới được biết.
Rupert Hogg chọn cách từ chức vào ngày 16/8, để không phải chịu bất kỳ áp lực nào nữa từ nhà cầm quyền Bắc Kinh, và cũng để không phản bội lại tất cả những người đang làm việc với ông.

Cách làm của Rupert Hogg cũng được coi như là một cách đồng tình với cuộc xuống đường của giới trẻ Hồng Kông lúc này.

Mọi lời ngợi khen ông Rupert Hogg đã vang lên không chỉ từ Hồng Kông, mà lúc này đã ở khắp thế giới. Nhân cách của ông là tấm gương lớn soi chiếu cho thế giới thực dụng và duy lợi hôm nay.

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 16 Oct 2019 lúc 6:22pm

CÀNG VĨ ĐẠI CÀNG GIẢN DỊ

George Washington (1732-1799) là Tổng thống đầu tiên và được bình chọn là Tổng thống vĩ đại thứ hai của Hoa Kỳ sau Abraham Lincoln.
George Washington được coi là cha đẻ của nhà nước Liên bang và nền độc lập của Hoa Kỳ. Ông John Marshall, Chánh Án tòa án tối cao thứ 4 của Mỹ, từng đánh giá: “Washington đã đóng góp công sức nhiều hơn bất kỳ ai khác và ở mức tối đa mà một con người có thể làm được để tạo ra đất nước bao la hùng mạnh này, đem lại cho Thế giới Tây bán cầu độc lập tự do.”

Viện lý do thu hoạch trang trại thừa nuôi sống bản thân và gia đình (ông rất giàu có), nên khi làm Tổng thống, George Washington khước từ khoản lương 25 nghìn đô la – một món tiền cực lớn thời điểm ấy. Mãi sau do Quốc hội ép, ông mới chịu lĩnh để không tạo thành tiền lệ Tổng thống phải là người giàu có!

Ngày 12-12-1799 (sau hưu 3 năm), George Washington đang cưỡi ngựa kiểm tra trang trại thì chẳng may trời đổ mưa tuyết, nhiễm lạnh bị cảm. Hai ngày sau (14-12), ông qua đời; ngày 18-12 đưa tang, mai táng tại Mount Vernon.

Cả nước Mỹ thành kính để tang một tháng, nhưng mấy tháng sau vẫn thấy hàng vạn người mặc đồ tang đi trên đường. Nước Pháp treo cờ rủ và quyết định để tang mười ngày. Washington để lại di chúc với đại ý (không phải nguyên văn) như sau:

Tôi trả lại tự do cho người hầu phòng William
(*) và cho anh ta khoản trợ cấp hàng năm 30 đô la. Tôi yêu cầu trả tự do cho số nô lệ còn lại sau khi vợ tôi – bà Martha qua đời. Số tiền ở Ngân hàng Alexandria sẽ chuyển cho trường trẻ em nghèo và mồ côi. Tài khoản trong Công ty Potomac sẽ được dùng để xây dựng trường Đại học Tống hợp Quốc gia. Xóa toàn bộ nợ cho các con nợ lớn nhỏ. Sĩ quan Trợ tá Tobias Lear (người cận vệ của ông) có quyền cứ ở lại nhà tôi mà không phải trả tiền nhà.
(*) Lúc này ở Mỹ vẫn còn chế độ nô lệ

George Washington không có con nối dõi nên Bushrod Washington – cháu gọi ông bằng bác được thừa hưởng toàn bộ giấy tờ sổ sách và thư viện khổng lồ. Cây gậy bịt vàng do Benjamin Franklin tặng thuộc về Charles – em trai. Những khẩu súng chiến lợi phẩm thuộc về Lafayette. Năm cháu trai gọi ông bằng bác, mỗi người được nhận một thanh kiếm quý với điều kiện: “Không bao giờ được tuốt khỏi vỏ gây đổ máu, trừ trường hợp phải tự vệ hoặc phải xả thân bảo vệ Tổ quốc”.

Ông cũng viết trong di chúc: “Tôi đặc biệt nhấn mạnh rằng thi hài mình cần được chôn cất một cách riêng tư, không diễu hành phô trương, và cũng không cần điếu văn.”

Đến 10 giờ đêm 14-12 ông nói với Tobias Lear: “Tôi sắp đi đây! Hãy chôn tôi hết sức giản dị (…) Anh hiểu ý tôi không?” Lear đáp: “Thưa Ngài, tôi hiểu”. Washington nói giọng yếu ớt: “Tis, ở lại mạnh giỏi nhé!” Đó là lời nói cuối cùng của một vĩ nhân trước lúc ra đi!…

Như ý nguyện, George Washington được chôn cất trong khu mộ đơn sơ tại cư dinh Mount Vernon cùng các thành viên quá cố của gia đình. Khu mộ này được xây dựng từ lâu, đã xuống cấp, ẩm ướt, và thường xuyên bị ngập, vì thế Washington có dặn dò trong di chúc của mình rằng ông mong muốn chuyển khu mộ của gia đình tới một nơi tốt hơn, được “xây bằng gạch” (a new one of Brick), khi nào có điều kiện.

Năm 1830, một vụ trộm mộ xảy ra, kẻ cướp muốn đánh cắp thi hài George Washington nhưng đã lấy nhầm thi hài của người khác trong gia đình ông. Trước tình cảnh đó, một khu mộ mới nhanh chóng được xây dựng và hoàn tất trong năm sau đó.

Cũng thời gian này, Quốc hội Mỹ đã từng họp bàn chuyển riêng thi hài Washington về đặt trong tòa nhà Quốc hội (trái di chúc của ông), nhưng nhưng không được thông qua. Cuối cùng, thi hài của ông được đặt vào trong một quan tài mới ở khu mộ mới, bên cạnh quan tài của vợ ông cùng các thành viên của gia đình để giữ đúng nguyện vọng di chúc của ông.

Con người và sự nghiệp của George Washington rất vĩ đại. Ngay năm 1790 khi còn sống, tên ông đã được lấy đặt cho tên Thủ đô . Trong tất cả các bang của Hoa Kỳ, chỉ duy nhất một bang được đặt theo tên người, đó là bang Washington ! Có tới 32 bang có quận tên là Washington. Có một quả núi mang tên ông…

Trong các ngày nghỉ lễ liên bang của Hoa Kỳ thì có ngày sinh của 3 nhân vật được kỷ niệm: Martin Luther King, Jr. ; George Washington; và ngày Chúa Giáng Sinh.

George Washington được người dân Mỹ tôn sùng, vậy mà khi mất ông cũng chỉ yên nghỉ trong ngôi mộ rất bình thường không có gì đặc biệt so với ngôi mộ của những người khác…

Tiếng tăm của một người để lại được tạo ra do cuộc đời tận tụy cống hiến phụng sự cho đất nước, chứ không phải do cái hào nhoáng bên ngoài của lăng mộ !

Sưu tầm

Liêm
Quay về đầu
Liêm Xem từ trên xuống
Senior Member
Senior Member


Đã gia nhập: 10 Oct 2009
Tình trạng: Offline
Đăng Bài: 3110
  Trích dẫn Liêm Trích dẫn  Trả lời bàiTrả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 21 Oct 2019 lúc 6:07pm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

Chương 10 : HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG

“Yêu cầu chấm dứt cuộc du khảo. Mọi tài trợ cắt đứt. Trở về Luân đôn ngay.”

Bức điện tín đến bất ngờ, làm phái đoàn hết sức sửng sốt. Bác sĩ Kavir cho biết một tờ báo ở Luân đôn đã ghi nhận rằng phái đoàn khoa học ưu tú nhất Anh quốc, đã quỳ mọp bên cạnh những đạo sĩ “trần truồng” xứ Ấn để nghe dạy bảo.

Dư luận quần chúng hết sức phẩn nộ, đòi đại học Oxford phải ngưng ngay các cuộc du khảo và triệu hồi phái đoàn trở về để giải thích. Phái đoàn lập tức lấy xe lửa trở về Bombay.
(Ghi chú : Khi đó Ấn độ đang là thuộc địa của Anh, và vấn đề kỳ thị chủng tộc, giai cấp còn rất mạnh)

Nhật ký của giáo sư Spalding :
“Thật là bất ngờ khi chúng tôi nhận được bức điện tín, kèm theo đó là một bức thư của Lãnh sự quán Bombay cùng những mẫu báo nói về những giáo sư đại học của Hoàng gia đã “quỳ mọp” bên cạnh những phù thuỷ Ấn man rợ để nghe dạy bảo… Lời tường thuật đầy ác ý của một ký giả thiếu sáng suốt, đã phá hoại công trình sưu tầm nghiên cứu đang diễn ra tốt đẹp. Làm sao có thể giải thích cho quần chúng hiểu rằng ngoài các phong tục, tôn giáo hỗn độn, phức tạp, hoang đường, mê tín dị đoan còn ẩn dấu các chân lý cao đẹp mà người Âu cần nghiên cứu. Đành rằng Ấn độ đã ngủ say trong bao thế kỷ nay, nhưng trong sự suy đồi vật chất vẫn tiềm tàng một sinh lực tâm linh mãnh liệt đang chờ đợi được đánh thức.”

Chúng tôi đã học hỏi nhiều trong cuộc du khảo này, bài học đầu tiên do một người Anh, thương gia Keymakers đã dạy :
– Để nghiên cứu một cách vô tư và khoa học, người Âu cần gạt bỏ lòng tự kiêu, thành kiến văn hoá, chỉ giữ gìn một đầu óc khoa học, phê bình chặt chẽ để có thể xuyên qua rừng người mê tín tìm đến sự thật.

Như một viên ngọc quý cần phải được mài dũa, cuộc đi tìm chân lý cũng thế, chúng tôi đã mất mấy năm trời tìm tòi, gạn lọc mới gặp được các vị đạo sư tiêu biểu cho đời sống tâm linh thực sự của xứ Ấn. Nhờ những may mắn tình cờ, chúng tôi đã gặp các sinh hoạt tâm linh cao thượng mà ít người Âu nào có diễm phúc khám phá. Tất cả những chân lý từ trước đến nay chỉ được truyền bá một cách hết sức bí mật, thận trọng, đã được tiết lộ cho chúng tôi.

Là một phái đoàn khoa học, chúng tôi đã phân tách kỹ lưỡng, kiểm soát cẩn thận, phê bình chặt chẽ và đặt câu hỏi cho đến khi thật rõ ràng. Mỗi người chúng tôi đều ghi chép vào sổ tay cá nhân riêng những sự kiện quan sát, sau đó chúng tôi cùng nhau kiểm điểm, bàn luận và kiểm chứng lại tài liệu này cho đến khi tất cả đều đồng ý là chính xác, mới ghi vào hồ sơ chính. Nhờ phương thức này, chúng tôi quả quyết rằng tài liệu ghi nhận hoàn toàn đặt căn bản trên nền tảng khoa học chứ không phải sự tin tưởng hay hiểu biết của một cá nhân. Chúng tôi hy vọng khi công bố, các kết quả này sẽ là một nhịp cầu thông cảm giữa hai văn hoá và thúc đẩy những cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn.

Sự kiện vừa qua đã thay đổi tất cả và làm sụp đổ mọi kỳ vọng khiêm tốn nhất. Giáo sư Allen tin rằng nếu chúng tôi trở lại Luân đôn tuyên bố những điều khám phá và giải thích lý do một cách rõ ràng có thể quần chúng sẽ có thiện cảm hơn chăng ? Tôi không nghĩ như thế, hiện tại còn quá sớm để thay đổi một dư luận bắt nguồn từ những quan niệm hẹp hòi, những thành kiến và sự tự hào mù quáng.

Người Âu chỉ nhìn Ấn độ như một xứ chậm tiến, một thuộc địa dốt nát, mê tín đầy những kẻ thất học, chứ nào thấy được những giá trị tinh vi, những khoa học tiến bộ được che dấu cẩn thận dưới ánh nắng thiêu đốt miền nhiệt đới.

Giáo sư Mortimer và nhóm khoa học gia Hoa kỳ có ý muốn tách riêng và tiếp tục cuộc nghiên cứu vì xứ Hoa kỳ dù sao cũng ít thành kiến hơn . Đại học Yale và Harvard sẵn sàng bảo trợ cuộc du khảo, nhất là khi nó đã có kết quả.

Với tư cách trưởng phái đoàn, tôi không muốn thấy công trình tốt đẹp bị gián đoạn nhưng cũng không muốn đại học Hoa kỳ hưởng hết kết quả, dù sao tôi cũng là một người Anh, với mọi tự hào về truyền thống Oxford đã đào tạo ra chúng tôi, và chúng tôi muốn tên tuổi nó trong cuộc khảo cứu tiền phong này.

Viên lãnh sự lạnh nhạt tiếp đãi phái đoàn trong căn phòng nhỏ. Y chỉ mẩu báo nói về cuộc nghiên cứu đang trở nên một đề tài hấp dẫn, được báo chí khai thác triệt để :

– Các ông nên biết điều một chút, dù sao các ông cũng là những khoa học gia, giáo sư đại học lừng lẫy, có chân trong hội Khoa học Hoàng gia. Các ông là đại diện cho thành phần danh dự, ưu tú nhất của nước Anh… Các ông đã làm mất uy tín Hoàng gia, tại sao các ông không chịu ngồi yên ở Oxford ? Cái xứ nóng bực này có gì đâu để khảo cứu….

Giaó sư Oliver nổi nóng :
– Đó là việc riêng của chúng tôi, anh biết gì mà nói …

Viên lãnh sự nhếch miệng cười nhạt :
– Đó không phải việc riêng của các ông nữa, nó liên quan đến danh dự Hoàng gia, danh dự Oxford. Các ông nên biết tôi cũng xuất thân từ Oxford….

Giáo sư Oliver buột miệng :
– Nếu anh xuất thân từ Oxford thì anh phải biết cuộc khảo cứu này sẽ làm rạng danh đại học của chúng ta. Một ngày nào đó, người ta sẽ nói rằng chính Oxford đã tiên phong trong việc khảo cứu các hiện tượng huyền bí, các môn Yoga….

– Yoga ? Yoga là cái gì ? Ông muốn nói đến một loài thú nào chăng ?

Giáo sư Oliver há hốc miệng, không nói thêm lời nào. Một sự ngờ nghệch như vậy có thể tha thứ được đối với một công dân tầm thường, vô học, chỉ quanh quẩn nơi xó nhà, chưa hề ra khỏi tầm chuông nhà thờ Westminster… Đằng này y là một lãnh sự, đại diện cho Hoàng gia, xuất thân từ Oxford và đã sống ở Ấn độ hơn 6 năm nay ! Viên lãnh sự xem xét thông hành và cho biết phái đoàn phải rời Ấn độ ngay trong tuần lễ sau.

(còn tiếp)

Liêm
Quay về đầu
 Trả lời bài Trả lời bài Trang  <1 181182183184185>

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.234 Giây.